Chương trình theo dõi lúa ĐB sông Hồng

Ứng dụng công nghệ viễn thám đa thời gian trong công tác theo dõi lúa trên toàn vùng đồng bằng sông Hồng. Báo cáo hàng tháng được trình lên Bộ trưởng Bộ NN và PTNT.

Sử dụng tư liệu ảnh vệ tinh độ phân giải cao về thời gian

Tư liệu ảnh vệ tinh MODIS độ phân giải 250m chụp hàng ngày được thu nhận và xử lý tạo các tổ hợp 8 và 16 ngày phục vụ công tác nghiên cứu.

Nghiên cứu hạn hán hoặc ngập lụt

Bên cạnh công tác theo dõi lúa, chương trình cũng theo dõi các thảm họa thiên nhiên ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động sản xuất nông nghiệp như hạn hán, ngập lụt...

Theo dõi sâu bệnh

Theo dõi diện tích lúa bị sâu bệnh bằng phương pháp viễn thám, từ đó đưa ra mức độ cảnh báo về năng suất, chất lượng của mùa vụ.

Theo dõi quá trình xâm thực mặn

Phương pháp viễn thám được sử dụng trong công tác theo dõi xâm thực mặn từ biển gây ảnh hưởng đến quá trình canh tác sản xuất nông nghiệp và đời sống người dân...

Báo cáo kết quả trực tuyến

Các báo cáo được đăng tải hàng tháng trên trang web http://theodoilua.blogspot.com cùng bộ bản đồ trực tuyến xây dựng theo công nghệ WebGIS...

Thứ Năm, ngày 18 tháng 12 năm 2014

Liên kết phát triển cánh đồng lúa thơm


Vào tháng 11, 12/2014, trên nhiều vùng trồng lúa thơm đặc sản ở các huyện Trần Đề, Mỹ Xuyên, Thạnh Trị và TX Ngã Năm (Sóc Trăng) bắt đầu gieo sạ vụ ĐX 2014-2015. ... 

Mô hình cánh đồng sinh thái ứng dụng giải pháp ký thuật sản xuất lúa thơm đặc sản

Diện tích lúa thơm tiếp tục mở rộng SX theo hướng hợp tác liên kết. Nhiều doanh nghiệp ký hợp đồng với nông dân SX trên cánh đồng lớn. Trong khi đó, gạo thơm có ưu thế trên thị trường.

Nền tảng phát triển 

Trải qua 3 năm thực hiện Đề án "Phát triển lúa thơm đặc sản đến năm 2015", ông Huỳnh Ngọc Vân, PGĐ Sở NN-PTNT Sóc Trăng khẳng định: "Sóc Trăng có ưu thế là vùng SX gạo thơm.

Nhằm nâng cao giá trị gạo đặc sản của tỉnh, nâng cao đời sống nông dân, nhiều địa phương không ngừng mở rộng vùng SX lúa thơm. Nếu như từ năm 2010 toàn tỉnh chỉ có hơn chục nghìn ha thì đến nay diện tích lúa đặc sản đã tăng trên 92.000/317.000 ha gieo trồng, vượt chỉ tiêu 40.000 ha so với kế hoạch đến năm 2015 của đề án.

Riêng tại các huyện thuộc vùng triển khai đề án, diện tích tăng lên gần 72.000 ha, vượt 21.000 ha so với kế hoạch đến năm 2015. Trong đó chiếm nhiều nhất là giống lúa thơm Sóc Trăng (ST) gần 31.000 ha, lúa Tài Nguyên trên 9.000 ha và giống lúa thơm RVT, các giống OM...

Nhìn lại chặng đường hơn 20 năm, từ những năm đầu mới tái lập tỉnh lãnh đạo, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Sóc Trăng đã có tầm nhìn xa, định hướng cho ngành nông nghiệp của tỉnh tìm chọn những giống lúa thơm, ngon cơm thích nghi với thổ nhưỡng vùng nam sông Hậu và vùng ven biển. Năm 1993 chủ tịch UBND tỉnh Sóc Trăng đã chỉ thị mua trữ 600 tấn lúa giống Khao Dawk Mali (KDM) để đầu tư vào vùng phèn mặn thuộc TX Vĩnh Châu.

Anh hùng Lao động Hồ Quang Cua, nguyên PGĐ Sở NN-PTNT Sóc Trăng nhớ lại: "Sau bao năm đầu tư thử nghiệm trồng lúa thơm, đặc biệt từ khi thực hiện nghị quyết Đại hội XII (2010 – 2015) của Đảng bộ tỉnh Sóc Trăng đã nêu ra chỉ tiêu cụ thể: “Ổn định sản lượng hằng năm ở mức 1,7 triệu tấn, trong đó lúa đặc sản chiếm trên 20%...”.

Quả thực, đề án phát triển SX lúa đặc sản thực hiện đến cuối năm 2014, vùng trồng lúa thơm toàn tỉnh mở rộng chiếm 24,7% tổng diện tích gieo trồng, vượt chỉ tiêu Nghị quyết đề ra. Bên cạnh đó, nhóm cán bộ nông nghiệp của tỉnh nghiên cứu thành công bộ giống lúa thơm Sóc Trăng (ST), từng bước xác lập giá trị cao trên thị trường. Nhãn hiệu chứng nhận “Gạo thơm Sóc Trăng” được Cục Sở hữu trí tuệ bảo hộ trên pham vị cả nước trong vòng 10 năm".

Từ giống tốt đến SX VietGAP 

Quá trình triển khai đề án phát triển SX lúa đặc sản, Sở NN-PTNT chú trọng công tác nghiên cứu, chọn tạo, nhân các giống lúa đặc sản. Trung tâm giống của tỉnh hỗ trợ mạng lưới SX giống cấp xác nhận tại những vùng thuộc đề án; cung ứng trên 27,9 tấn giống nguyên chủng gồm các giống lúa ST5, OM4900, OM7347, OM9921, OM9915 hỗ trợ nhân giống trên diện tích 232,7 ha tại các huyện, thị trong vùng đề án.

Kết quả đề án đã tạo điều kiện cho nông dân tiếp cận với các giống lúa đặc sản, lúa thơm chất lượng và quy trình kỹ thuật SX giống lúa, trang bị kiến thức SX lúa theo hướng đạt năng suất, chất lượng, ổn định và bền vững để người dân ứng dụng vào SX hiệu quả.

Tại các huyện trong vùng thực hiện đề án đã tổ chức 54 lớp tập huấn chuyển giao ứng dụng TBKT cho nông dân. Kết quả mô hình này góp phần tác động thay đổi nhận thức của nông dân trong quản lý dịch hại, góp phần nâng cao kỹ năng chuyên môn về quy trình canh tác lúa đặc sản, giám sát dịch hại trên đồng. 

Song song đó, đề án triển khai các mô hình SX theo tiêu chuẩn VietGAP. Nông dân tham gia mô hình được hỗ trợ giá lúa giống 50%, 15% phân bón và thuốc BVTV theo định mức kỹ thuật; tập huấn và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật theo quy trình “1 phải 5 giảm”, hướng dẫn ghi chép sổ tay trong SX… và ký hợp đồng với DN tiêu thụ sản phẩm.

Mặt khác, đề án còn triển khai các mô hình SX sinh thái, sinh học trên diện rộng nhằm giúp giảm nguy cơ từ sử dụng thuốc BVTV, bảo vệ môi trường, sức khỏe cộng đồng, tạo ra sản phẩm an toàn, hướng đến mô hình SX nông nghiệp bền vững và thân thiện với môi trường.

 Lúa thơm đặc sản giá trị cao 

Đến dự tổng kết hoạt động SX nông nghiệp của tỉnh năm 2013, nhận định từ thực tiễn hoạt động SX nông nghiệp, Bí thư Tỉnh ủy Sóc Trăng Võ Minh Chiến chỉ đạo: “Làm kế hoạch SX nông nghiệp bây giờ, không phải lúc nào cũng chạy theo năng suất, sản lượng năm sau cao hơn năm trước, cái chính là trên cùng một diện tích đó thu nhập của nông dân năm sau phải cao hơn năm trước. Có như vậy chúng ta mới đạt được mục tiêu nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nông dân”.

Nông dân thu hoạch lúa bán cho DN 

Đề án phát triển lúa đặc sản triển khai chính là thể hiện chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn của tỉnh và gần đây là Đề án Tái cơ cấu nông nghiệp.

Có ý kiến cho rằng để xây dựng thương hiệu quốc gia cho gạo thơm đặc sản cần có sự quản lý chặt chẽ quy trình SX: Kiểm soát giống thuần, đặc biệt là công tác kiểm định, kiểm nghiệm hạt giống và xây dựng bộ tiêu chuẩn chất lượng để các DN tự kiểm soát trong quá trình SX chế biến gạo thơm.

 Từ những giống lúa thơm đặc sản đưa vào SX, cùng với áp dụng các quy trình SX tiên tiến, thực hiện cơ giới hóa khâu thu hoạch lúa bằng máy gặt đập liên hợp giúp nông dân gia tăng lợi tức từ vài triệu lên cả chục triệu đồng trên mỗi héc ta mà vẫn giữ được ổn định về sản lượng.

Theo chủ trương tái cơ cấu ngành lúa gạo, trong tình hình SX lúa ở ĐBSCL hiện còn gặp khó, nhất là khâu tiêu thụ sản phẩm, PSG.TS. Phạm Văn Dư, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả SX lúa, xây dựng mô hình cánh đồng lớn, SX theo chuỗi giá trị.

Trong đó, xây dựng vùng nguyên liệu ở mỗi tỉnh phù hợp, có thể theo 5 nhóm vùng nguyên liệu phù hợp với yêu cầu của thị trường như canh tác giống lúa Jasmine 85; các giống lúa cho gạo trắng hạt dài chất lượng cao; các giống lúa đặc sản có chất lượng rất cao, đặc sản theo chỉ dẫn địa lý của địa phương gồm nhóm giống ST, Nàng thơm Chợ Đào, Tài Nguyên, Một Bụi Đỏ, VD20, Nàng Hoa…; các giống nếp và giống lúa hạt tròn (Japonica) và các giống lúa chất lượng trung bình - thấp.

Con đường từ nghiên cứu đến hình thành vùng SX lúa thơm đặc sản ở tỉnh Sóc Trăng đang phát triển đúng hướng. Tuy nhiên mối quan tâm nhất của các cán bộ nông nghiệp trực tiếp thực hiện đề án phát triển lúa đặc sản Sóc Trăng là làm thế nào giữ vững giá trị gạo thơm, trong khi khâu hậu cần sau thu hoạch không theo kịp đà phát triển SX.

Các DN chuyển từ mua gạo sang mua lúa chưa kịp đồng tư đồng bộ trang thiết bị sấy, kho bảo quản dạt yêu cầu nên làm giảm chất lượng như mất mùi thơm, mất nhựa, ẩm vàng... Đó là một trong những nguyên do khiến cho giá gạo bị giảm giá....

Nguồn: Theo Báo Nông nghiệp



Thứ Tư, ngày 17 tháng 12 năm 2014

Xuất khẩu gạo: Cần thế “chân kiềng”


Dự kiến trong năm 2014, Việt Nam xuất khẩu khoảng 6,5 triệu tấn gạo, giảm 10% so với năm 2013 và giảm 1,17 triệu tấn so với năm 2012. Theo các chuyên gia, nguyên nhân sụt giảm cơ bản là gạo Việt Nam không có thương hiệu, chất lượng lại thấp… 

 Ngành gạo còn bấp bênh 

 Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (trụ sở tại TP Hồ Chí Minh), lũy kế xuất khẩu gạo từ đầu năm đến ngày 30-11-2014 đạt 5,843 triệu tấn, trị giá đạt hơn 2,7 tỷ USD. Thị trường xuất khẩu lớn nhất vẫn là Trung Quốc với 31,1% thị phần, thứ hai là thị trường Philippines chiếm hơn 21,9%, kế đến là Malaysia, Gana và Indonesia. Ước tính, trong năm 2014, Việt Nam xuất khẩu khoảng 6,5 triệu tấn gạo, giảm 10% so với năm 2013 và giảm 1,17 triệu tấn so với năm 2012. Như vậy, kể từ năm 2012 đến nay, xuất khẩu gạo của Việt Nam gặp nhiều khó khăn, tuy tăng về lượng nhưng giảm dần về giá trị.

 Cần nâng cao chất lượng gạo Việt Nam để tiếp cận phân khúc thị trường cấp cao. 

 Theo đánh giá của các chuyên gia Viện Nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) và Tổ chức Lương nông quốc tế (FAO), gạo Việt Nam số lượng nhiều, chất lượng thấp, giá thành cao, hình ảnh xuất khẩu thấp, chưa hấp dẫn các nhà nhập khẩu và thu hút đầu tư vào Việt Nam. Theo các chuyên gia, nguyên nhân cơ bản là gạo Việt Nam vừa không có thương hiệu, chất lượng lại thấp, khoảng 70% lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam là gạo có phẩm cấp thấp (25% tấm) nên khó tiếp cận vào các phân khúc thị trường cấp cao; trong khi đó, phân khúc cấp trung, cấp thấp lại có nhiều quốc gia cùng cạnh tranh, đưa đến giá bán và lợi nhuận giảm.

 PGS.TS Nguyễn Văn Sánh - Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) phân tích sâu hơn rằng, hiện nay có gần 1,5 triệu hộ nông dân trồng lúa nhỏ lẻ, kỹ thuật sản xuất không cao, dẫn đến phí sản xuất cao, nhưng giá vật tư nông nghiệp và chất lượng lúa - gạo thấp; tổ chức HTX và kinh tế hợp tác nông dân còn yếu. Hiện nay, toàn vùng có 1.562 HTX, chiếm 8,73% so với cả nước, trong đó HTX nông nghiệp chiếm khoảng 740 HTX (khoảng 45%), nhưng chất lượng hoạt động không cao. Do lãnh đạo HTX yếu kém về trình độ, chuyên môn và nghiệp vụ; đa số thành viên tham gia là hộ nghèo, dẫn đến khó khăn trong việc lập kế hoạch sản xuất và kinh doanh; đầu vào và đầu ra trong chuỗi liên kết để thực hiện "4 đúng" (gồm chất lượng đồng nhất; lượng phải đủ khi ký hợp đồng; đúng thời điểm thị trường cần; giá thành sản xuất phải thấp).

 Theo thống kê của Ngân hàng Thế giới, chỉ có khoảng 10% doanh nghiệp mua lúa trực tiếp của nông dân, dẫn tới chuỗi giá trị lúa gạo phải qua nhiều khâu trung gian từ đầu vào, thương lái, sấy lúa, xay xát, lao bóng gạo và bán cho doanh nghiệp tiêu thụ. Chiến lược kinh doanh, công nghệ chế biến, khả năng cạnh tranh và xâm nhập thị trường của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế. Đó là chưa nói tới tình trạng có rất nhiều "cò" như "cò" lúa, "cò" gặt, "cò" sấy… ảnh hưởng đến liên kết nông dân và doanh nghiệp.

 Sự sụt giảm giá trị của lúa gạo Việt Nam còn bởi lúa gạo ĐBSCL chưa có thương hiệu như gạo Basmati của Ấn Độ hay Khawdock mali của Thái Lan. Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo, việc tranh mua và tranh bán xảy ra thường xuyên. Vì thế hạt gạo chỉ chạy lòng vòng trong nội địa, làm tăng chi phí trước khi xuất khẩu hoặc tiêu thụ trong nước.

 Nâng cao chuỗi giá trị 

 Theo GS.TS Võ Tòng Xuân, chuyên gia nghiên cứu nông nghiệp, để ngành lúa gạo có sức bật trong thời gian tới trước hết phải nâng cao chất lượng hạt gạo, qua đó định hướng người nông dân canh tác theo chuỗi giá trị, có đầu tư chất xám trên cơ sở quản lý tài nguyên thiên nhiên bền vững, phù hợp với điều kiện sinh thái từng vùng, từng địa phương. "Cần chấm dứt việc sản xuất tự phát của nông dân, phải theo quy hoạch cụ thể từng nơi. Rồi cũng phải hỗ trợ kỹ thuật chăm sóc cho nông dân. Bên cạnh đó, chúng ta phải liên kết chuỗi giá trị, quy hoạch vùng, tìm thị trường đầu ra, hướng tới sản xuất ra những sản phẩm nông sản phù hợp với nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu; đồng thời quan tâm khâu cơ giới hóa, tận dụng phế phẩm trong nông nghiệp để nâng cao giá trị sản xuất. Ngoài ra, sản xuất phải gắn với công tác đầu tư xây dựng nhà kho bảo quản, nhà máy chế biến sản phẩm trước khi cung cấp cho thị trường" - GS.TS Võ Tòng Xuân phân tích.

 Còn theo PGS.TS Nguyễn Văn Sánh, ngành lúa gạo rất cần thị trường tiêu thụ sản phẩm. Tuy vậy, công tác xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu đối với các sản phẩm nông sản của nước ta chưa được đầu tư thỏa đáng, từ đó ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của các sản phẩm có cùng chất lượng của Việt Nam trên thị trường quốc tế. Đối với chuỗi sản xuất trong nước, PGS.TS Nguyễn Văn Sánh cho rằng, cần có sự liên kết giữa người nông dân với doanh nghiệp theo 3 phương thức: Nông dân - nông dân, nông dân - doanh nghiệp và doanh nghiệp - doanh nghiệp, trong đó mối liên kết giữa nông dân với doanh nghiệp trong đầu vào và đầu ra rất quan trọng trong nâng cấp chuỗi giá trị. Bên cạnh mối liên kết này, liên kết vùng và sự tham gia "4 nhà" (nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và nông dân) nhằm nâng cao chuỗi giá trị trong cánh đồng lớn được quy hoạch và quản lý chặt chẽ. Đây chính là thế "chân kiềng" cần thiết để ngành lúa gạo phát triển nhanh và bền vững.

 Việt Nam đã xuất khẩu 5,89 triệu tấn gạo 
 (HNM) - Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), trong 2 tuần đầu tháng 12, Việt Nam đã xuất được khoảng 47 nghìn tấn gạo với giá trị 21,6 triệu USD, đưa số lượng gạo xuất khẩu của cả nước từ đầu năm đến nay lên 5,89 triệu tấn, thu về 2,72 tỷ USD. Tuy nhiên, giá gạo xuất khẩu chỉ được 467,1 USD/tấn, giảm 2,6 USD/tấn so với tháng 11-2014. Trong khi giá gạo xuất khẩu giảm thì giá lúa gạo trong nước ổn định, lúa khô loại thường đang được thương lái thu mua với giá 5.500 - 5.600 đồng/kg, lúa dài khoảng 5.650 - 5.800 đồng/kg; gạo nguyên liệu loại 1 làm ra gạo 5% tấm đang bán với giá 7.200 - 7.250 đồng/kg...

Nguồn: Theo Báo Hà Nội mới



Đồng bằng sông Cửu Long sẽ xuất khẩu được 5,85 triệu tấn gạo


Theo Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long vừa xuất khẩu 180.000 tấn gạo, nâng tổng lượng gạo đã xuất từ đầu năm đến ngày 15/12 được 5,6 triệu tấn.

 Dự kiến, trong những ngày còn lại của năm nay, các tỉnh sẽ xuất thêm 250.000 tấn, nâng tổng lượng gạo xuất khẩu trong năm lên 5,85 triệu tấn, với trị giá 2,9 tỷ USD, tương đương với năm 2013.

 Trong số gạo xuất khẩu trên, thị trường châu Á, châu Phi chiếm 83% lượng gạo xuất khẩu của vùng, còn lại là xuất sang thị trường châu Mỹ, châu Âu, châu Đại Dương.

 Theo ông Nguyễn Phong Quang, Phó Ban thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, năm nay, tình hình xuất khẩu gạo của vùng đồng bằng gặp khó khăn về thị trường và giá vì phải cạnh tranh khá gay gắt với gạo xuất khẩu của một số nước.

 Khắc phục khó khăn này, các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long đã tăng cường công tác quảng bá, tiếp thị, giữ vững thị phần tại các thị trường truyền thống như Singapore, Trung Quốc, Hong Kong, Philippines, Malaysia, Algeria, Indonesia; đồng thời, tìm kiếm thêm khách hàng tại các nước EU, Bắc Mỹ, châu Á, châu Phi nên đã giữ vững kim ngạch xuất khẩu gạo.

 Bên cạnh đó, nhờ 70% diện tích lúa trồng các giống chất lượng cao nên phần lớn lượng gạo xuất khẩu của vùng có sức cạnh tranh cao hơn so với gạo cùng phẩm cấp của một số nước lân cận, trong khi giá bán lại thấp hơn nên được khách hàng nước ngoài ưa chuộng.

 Cùng với đó, công tác thông tin, dự báo thị trường tại Đồng bằng sông Cửu Long cũng kịp thời, chính xác hơn nên đã giúp các doanh nghiệp định hướng tốt trong kế hoạch sản xuất kinh doanh. Ngoài ra, các tỉnh cũng tổ chức tốt việc thu mua nguyên liệu, chế biến và bảo quản tốt hơn.

 Không chỉ vậy, năm nay các doanh nghiệp xuất khẩu gạo được chỉnh đốn nên tính chuyên nghiệp được nâng lên, có trách nhiệm với khâu sản xuất của người nông dân hơn. Số lượng doanh nghiệp xây dựng vùng nguyên liệu chuyên canh bảo đảm sản xuất đáp ứng yêu cầu chất lượng và xây dựng thương hiệu hàng hóa tăng thêm.

 Trong khi đó, hệ thống thương lái và xay xát bước đầu được tổ chức lại theo hướng gắn kết với các doanh nghiệp xuất khẩu và mua lúa gạo theo giá thị trường, bảo đảm cho người trồng lúa có lãi từ 30% trở lên.

 Ngoài ra, các tỉnh trong vùng cũng kịp thời hỗ trợ hợp lý cho doanh nghiệp trong việc bao tiêu lúa hàng hóa cũng như hoàn thành tốt việc mua tạm trữ 2 triệu tấn gạo; mở rộng liên kết, mua thêm nguyên liệu để chế biến, đáp ứng đủ cho nhu cầu xuất khẩu.

 Đáng chú ý, năm nay có thêm hàng chục doanh nghiệp đã chủ động đầu tư vốn mở rộng hệ thống silo, kho chứa, lắp đặt mới hệ thống máy móc xay xát, thiết bị phân loại, đánh bóng gạo, nâng công suất chế biến và quản lý hệ thống sản xuất theo tiêu chuẩn ISO, HACCP sản xuất các loại như 5%, 10%, 15%, 25%, 35%, 100% tấm, nếp và gạo thơm đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng nước ngoài./.

Nguồn: Theo vietnamplus.vn



Gạo xứ Nghệ bao giờ có thương hiệu?



Gạo xứ Nghệ đã phân phối đi một số tỉnh trong nước và cả thị trường thế giới. Tuy nhiên, điều trăn trở là vẫn chưa xây dựng được nhiều sản phẩm mang thương hiệu gạo xứ Nghệ.... 

Xứ Nghệ (Nghệ An – Hà Tĩnh) là vùng đất có tiềm năng, lợi thế lớn về sản xuất lúa nước, có nhiều vùng sản xuất trọng điểm được xem là “vựa lúa” như các huyện Yên Thành, Diễn Châu, Nam Đàn, Hưng Nguyên, Đô Lương, Đức Thọ, Cẩm Xuyên, Thạch Hà…, với nhiều giống lúa gạo thơm ngon nổi tiếng.

Ruộng đồng xứ Nghệ được phù sa các sông lớn bồi đắp hàng ngàn năm nên rất màu mỡ, nhiều vùng được xem là “bờ xôi ruộng mật”. Người nông dân xứ Nghệ đã bao đời gắn bó với cây lúa, có bề dày kinh nghiệm thâm canh. Nhiều năm trở lại đây, năng suất lúa vùng này từng bước được nâng lên, người nông dân đã dư thừa gạo để bán ra thị trường.

 Gạo xứ Nghệ đã phân phối đi một số tỉnh trong nước và cả thị trường thế giới. Tuy nhiên, điều trăn trở là lợi nhuận từ sản xuất lúa gạo chưa cao, sản lượng gạo xuất ra thị trường chưa nhiều và đặc biệt là chưa xây dựng được nhiều sản phẩm mang thương hiệu gạo xứ Nghệ, để được đông đảo người tiêu dùng trong nước và quốc tế biết đến.

Vài năm trở lại đây, Công ty TNHH Vĩnh Hoà (Yên Thành, Nghệ An) đã sản xuất được giống lúa AC5 có chất lượng gạo thơm ngon, năng suất cao, được người nông dân nhiều địa phương tin tưởng lựa chọn.

 Công ty đã tiến hành thu mua cho người dân với giá cao, tiến hành xay xát, đánh bóng và xuất bán ra thị trường nhiều tỉnh với khối lượng có năm lên đến hàng trăm tấn, được chào bán với thương hiệu “gạo xứ Nghệ”.

Được biết, gạo AC5 đã được mang sang chào bán ở thị trường Mỹ. Công ty cũng đang xây dựng thương hiệu gạo thảo dược từ giống lúa VH1 có đặc tính gạo thơm ngon, có các vi chất dinh dưỡng, vitamin...

Cty CP TCty Vật tư nông nghiệp Nghệ An cũng đã sản xuất thành công giống lúa thuần VTNA2 cho năng suất cao, chất lượng gạo ngon được thị trường ưa chuộng. Công ty có nhà máy xay xát, đánh bóng gạo hiện đại bậc nhất miền Trung, nhưng do lượng lúa thu mua vào còn chưa đủ công suất, lượng gạo bán ra không đủ so với nhu cầu thị trường.

Được biết hiện nay Công ty đang tích cực phát triển các loại giống lúa năng suất, chất lượng cao ra các tỉnh trên cả nước.

So với tiềm năng, lợi thế của địa phương, thì việc xây dựng thương hiệu gạo xứ Nghệ đang là một khoảng trống lớn. Một số nước Đông Nam Á như Thái Lan, hay mới đây là Campuchia đã xây dựng thành công nhiều thương hiệu gạo của quốc gia và tầm thế giới. Một khi gạo đã có thương hiệu thì rất thuận lợi trong việc tiếp cận khách hàng, tăng giá bán và tạo ra lợi thế cạnh tranh.

Nguyên nhân của việc chưa xây dựng được thương hiệu gạo xứ Nghệ do sản xuất, tiêu thụ còn manh mún, một số nơi vẫn còn tình trạng quá nhiều giống lúa trên một cánh đồng, trong đó không loại trừ cả những giống chưa bảo đảm chất lượng.

Ngoài ra có hiện tượng đất trồng lúa bị ô nhiễm do lạm dụng phân bón hoá học, thuốc trừ sâu; khâu bảo quản, chế biến chưa bảo đảm qui chuẩn; còn yếu trong khâu tổ chức phân phối, bán lẻ và công tác tuyên truyền, quảng bá chưa thực sự phát huy hiệu quả. Một số người dân, DN chưa có ý thức xây dựng, quảng bá thương hiệu gạo xứ Nghệ.

 Để xây dựng thành công một số thương hiệu gạo xứ Nghệ đòi hỏi sự đầu tư bài bản, công phu của các DN và sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước cũng như sự hưởng ứng, đồng thuận của nông dân. 

Ông Trương Văn Hiền, Tổng Giám đốc Công ty VTNN Nghệ An cho biết: “Để xây dựng được thương hiệu gạo xứ Nghệ, cần: Giống lúa chất lượng cao, cho năng suất cao, gạo thơm ngon, được thị trường ưa chuộng; tổ chức sản xuất qui mô lớn để có qui trình chăm sóc đảm bảo yêu cầu kĩ thuật; làm tốt khâu thu hoạch, chế biến, bảo quản và tổ chức phân phối, bán hàng và quảng bá tốt.

Đòi hỏi của thị trường, nhất là thị trường quốc tế, ngày càng khắt khe hơn, không chỉ gạo thơm ngon mà còn phải bổ dưỡng, đẹp, không có dư lượng hoá chất độc hại, bao bì đóng gói phải có hình thức, trang trí độc đáo, ưa nhìn”.

Ông Doãn Trí Tuệ, một chuyên gia về nông nghiệp nói: “Để xây dựng được thương hiệu gạo, cần có các DN có đủ năng lực đứng ra đầu tư một cách bài bản: Từ sản xuất giống, chọn giống, đăng kí thương hiệu độc quyền; xây dựng cánh đồng mẫu lớn, đầu tư về phân bón, vật tư và hỗ trợ kỹ thuật cho nông dân; bao tiêu và phân phối sản phẩm".

Theo ông Tuệ, trong mối liên kết “4 nhà” thì DN phải đóng vai trò trung tâm, chủ động trong tổ chức sản xuất. Nếu để cho người nông dân tự xoay xở thì không thể tạo ra được thương hiệu gạo. Kiểu buôn bán chụp giật như trộn hai loại gạo với nhau để tăng lợi nhuận cũng sẽ đánh mất thương hiệu gạo xứ Nghệ...

Bên cạnh đó, Nhà nước cũng cần có cơ chế hỗ trợ DN và nông dân trong qui trình xây dựng thương hiệu lúa gạo như hỗ trợ về vốn, quảng bá, khen thưởng… Và, cần có những giải pháp như hội thảo, tập huấn, ràng buộc về hợp đồng…để người nông dân từng bước chuyển sang phương pháp canh tác khoa học, hiện đại....

Nguồn: Theo Báo Nông nghiệp



Thứ Ba, ngày 16 tháng 12 năm 2014

Ngành lúa gạo chưa phát triển bền vững


ĐBSCL là vùng trọng điểm sản xuất lúa gạo nhưng từ trước đến nay đầu tư thấp và hiệu quả chưa cao vì thiếu đồng bộ. Nông dân trồng lúa ngày càng nghèo, thu nhập thấp lại chi tiêu cao, đầu tư sản xuất cao 

Tiến sĩ Lê Văn Bảnh, Viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL, cho biết phát triển sản xuất lúa gạo hiện nay cũng chưa thật sự bền vững, nhiều tiến bộ kỹ thuật như giống mới và các quy trình kỹ thuật thâm canh, quy trình phòng trừ sâu bệnh được chuyển giao đến bà con nông dân nhưng chưa thật sự phát huy tối đa hiệu quả, giá thành sản xuất vẫn còn cao. Điệp khúc được mùa rớt giá diễn ra thường xuyên, đã ảnh hưởng không nhỏ đến thu nhập và đời sống của người trồng lúa. Vì vậy cần phải có giải pháp hợp lý trong sản xuất lúa gạo bền vững nhằm nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho nông dân.

 Bất cập 

 Sản xuất lúa gạo đến nay vẫn còn nhiều bất cập, nông dân trồng lúa còn gặp nhiều khó khăn. Thiếu các giống lúa năng suất và chất lượng cao, thích nghi với đặc thù từng tiểu vùng sinh thái của ĐBSCL, chống chịu được sâu bệnh và điều kiện khó khăn do biến đổi khí hậu. Thiếu nguồn cung cấp giống tốt, đến nay chỉ có khoảng trên 30% giống cấp xác nhận được sử dụng trong sản xuất lúa. Nông dân sản xuất lúa gặp nhiều rủi ro do sâu bệnh, thiên tai như lũ lụt, hạn hán, xâm nhập mặn và thị trường tiêu thụ. Một số nơi “nâng cấp” hạt giống chưa đúng với quy định với ý đồ thành tích hay thương mại, nên có địa phương công bố đã dùng giống lúa xác nhận tới 20%-40% nhưng thực tế chỉ đạt 10%-14%.

 Nông dân sáng kiến sạ lúa bằng ống trục 

 Trình độ sản xuất, kỹ năng và kỹ thuật chưa cao, chưa đồng đều dẫn đến chênh lệch năng suất giữa các hộ sản xuất lúa trong cùng một tỉnh hoặc giữa tỉnh này và tỉnh kia còn khá cao. Nông dân sản xuất nhỏ lẻ, manh mún và thiếu tổ chức, dẫn đến sản xuất không đúng chất, không đủ lượng, không đúng thời điểm và không đạt giá trị cao. Việc sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật còn nhiều lãng phí. Hệ thống kho tàng dùng bảo quản, chế biến lương thực còn nhiều bất cập, tổn thất khâu thu hoạch và sau thu hoạch lúa còn cao. Hệ thống chế biến xay xát chưa đồng bộ và công nghệ đa số còn ở mức thấp, hệ thống bảo quản tồn trữ còn yếu chưa bảo đảm yêu cầu. Hệ thống kinh doanh lương thực đã được xã hội hóa nhưng hiệu quả chưa cao, nhất là trong xuất khẩu.

 Ông Đào Anh Dũng, Phó Chủ tịch UBND TP Cần Thơ, cho rằng Cần Thơ có nhiều doanh nghiệp kinh doanh lúa gạo nhưng còn yếu về hệ thống lò sấy, kho trữ lúa, chưa chủ động điều tiết cung cầu lúa gạo, thiếu sự liên kết. Đời sống nông dân ở ĐBSCL chưa được cải thiện nhiều do sản xuất lúa gạo chưa mang lại giá trị cao. Sắp tới, cạnh tranh và hội nhập sẽ diễn ra ngày càng gay gắt.

 Giải pháp 

 Máy san phẳng mặt ruộng lúa điều khiển bằng tia lazer đã được sử dụng trong sản xuất lúa đại trà ở nhiều nước (Úc, Ý, Nhật). Ở Việt Nam và Campuchia đã có mô hình công nghệ tia lazer trong khâu san phẳng mặt ruộng lúa nước. Viện Lúa quốc tế (IRRI) và Trường ĐH Nông Lâm TP HCM đã hợp tác giúp Bạc Liêu và An Giang áp dụng công nghệ cao này. Kết quả thử nghiệm sử dụng tia lazer tốt, nhưng chưa thể phát triển đại trà do sản xuất còn manh mún.

 Ứng dụng các giải pháp khoa học công nghệ trong chọn tạo giống nhằm tìm ra giống lúa cho năng suất cao ổn định, phẩm chất gạo tốt, kháng sâu bệnh, thích nghi điều kiện tiểu vùng sinh thái và thay đổi khí hậu toàn cầu. Chuyển giao các giải pháp kỹ thuật sản xuất lúa thích ứng cho hội nhập kinh tế và sự biến đổi khí hậu, áp dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ cao trong sản xuất lúa để đạt năng suất cao. Phát triển các dạng hình kinh tế hợp tác để thuận lợi cho đầu tư, sản xuất hàng hóa đủ lớn, dễ dàng tiếp cận thị trường và bảo đảm đầu ra, liên kết nông dân và doanh nghiệp.

 Giải pháp phát triển thị trường lúa gạo có thể xem là biện pháp lâu dài để kích thích và ổn định sản xuất, giảm thiểu rủi ro cho nông dân và gia tăng lợi nhuận. Nghiên cứu chuỗi giá trị sản xuất lúa gạo, tìm giải pháp nâng cao chuỗi giá trị từ khâu sản xuất, xử lý sau thu hoạch, bảo quản tồn trữ, bảo đảm chất lượng, cơ sở hạ tầng, lưu thông phân phối. Xây dựng thương hiệu lúa gạo là vai trò của doanh nghiệp, giúp nông dân sản xuất hướng đến thị trường, sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP hoặc GlobalGAP. Xây dựng hệ thống cung cấp thông tin thị trường, giảm thiểu rủi ro do hàng hóa dư thừa và rớt giá.

Nguồn: Theo Báo Người lao động



Không dễ xuất khẩu gạo vào thị trường gạo tập trung


Nhu cầu nhập khẩu gạo đối với phân khúc thị trường tập trung (government-to-government/G2G) cho năm 2015 đã rõ hơn, nhưng theo một số người trong cuộc, doanh nghiệp trong nước rất khó giành được những hợp đồng này bởi đang có sự cạnh tranh gay gắt giữa các nước xuất khẩu.

 Trao đổi với TBKTSG Online, ông Huỳnh Thế Năng, Tổng giám đốc Tổng công ty Lương thực miền Nam (Vinafood 2), khẳng định: “Đến giờ phút này, nhu cầu nhập khẩu gạo ở một số thị trường, nhất là thị trường tập trung đã có rồi.”

 Theo ông Năng, sau ảnh hưởng của cơn bão Hagupit mới đây, Philippines đang có nhu cầu mua khoảng 600.000 tấn gạo và dự kiến sẽ mở thầu trong tháng 1 năm 2015 dù trước đó Cơ quan Lương thực quốc gia Philippines (NFA) bác bỏ thông tin sẽ nhập khẩu thêm gạo vì bão Hagupit.

 Ngoài ra, một số thị trường khác như Maylaysia Indonesia,… cũng đang có nhu cầu mua gạo. Dự kiến tổng nhu cầu của thị trường tập trung (bao gồm cả Philippines) năm tới có thể đạt 2-2,5 triệu tấn cho loại gạo trắng thông dụng (5%, 15% và 25% tấm).

 Tuy tín hiệu mua của khách hàng đã có nhưng đến thời điểm này vẫn chưa có hợp đồng xuất khẩu với số lượng đáng kể nào được ký cho năm 2015.

 “Doanh nghiệp có bán được hay không là câu chuyện cạnh tranh giữa chúng ta với các nước xuất khẩu khác,” ông Năng cho biết.

 Theo một chuyên gia phân tích thị trường lúa gạo Việt Nam, trong năm tới, xuất khẩu gạo của doanh nghiệp nội địa sẽ tiếp tục chịu áp lực lớn bởi lượng tồn kho ở mức cao của Thái Lan và tính khó lường của thị trường Trung Quốc.

 “Chúng ta đang lệ thuộc vào thị trường Trung Quốc nhưng không đoán định trước được nên trong trước mắt và trung hạn cạnh tranh gạo thông dụng của mình sẽ rất khó khăn,” vị này cho biết.

 Trong khi đó, Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) và một số thương nhân kinh doanh lúa gạo cho rằng chất lượng và chủng loại gạo không đồng nhất trong nước cũng khiến khả năng cạnh tranh của ngành lúa gạo Việt Nam kém hơn các nước rất nhiều.

 Chẳng hạn, đối với nhóm gạo trắng thông dụng của Việt Nam hiện có quá nhiều giống khác nhau (ít nhất 10 giống), trong khi một số thị trường nhập khẩu đòi hỏi gạo phải có sự đồng nhất về màu sắc, kích cỡ hạt.

 Thị trường châu Phi chẳng hạn, có nhu cầu khoảng 14 triệu tấn/năm đối với loại gạo thông dụng, tuy nhiên cho đến nay Việt Nam hầu như chưa bán được tấn gạo nào vào Đông Phi, còn ở Tây Phi mới chỉ bán được một ít vào Ghana và Bờ Biển Ngà.

 Nếu kịch bản xuất khẩu 6,2 triệu tấn gạo trong năm 2014 của các doanh nghiệp hội viên VFA diễn ra đúng như dự báo, thì lượng hợp đồng xuất khẩu còn lại chuyển sang năm 2015 sẽ đạt xấp xỉ ít nhất 800.000 tấn. Bởi theo thống kê của VFA, lũy kế đăng ký hợp đồng xuất khẩu của doanh nghiệp hội viên, tính đến ngày 20-11-2014 đã đạt xấp xỉ 7 triệu tấn (bao gồm cả hợp đồng tập trung và thương mại).

Nguồn: Theo Thời Báo kinh tế Sài Gòn



Đầu tháng 12, giá gạo xuất khẩu có dấu hiệu giảm


Giá gạo xuất khẩu của Việt Nam trong 10 ngày đầu tháng 12 có dấu hiệu giảm trong bối cảnh giá lúa gạo trong nước vẫn đứng yên.

Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) cho biết Việt Nam đã xuất khẩu được 46,2 nghìn tấn gạo trong giai đoạn từ ngày 1-10/12, thu về 21,6 triệu USD tính theo giá CIF.

 Như vậy, giá gạo xuất khẩu trung bình của Việt Nam trong 10 ngày đầu tháng 12 đạt 467,1 USD/tấn (theo cơ sở giá CIF), giảm mạnh so với mức bình quân 487,7 USD/tấn ghi nhận trong tháng 11.



 Lũy kế từ đầu năm, xuất khẩu gạo của Việt Nam đạt 5,89 triệu tấn về khối lượng và 2,72 tỷ USD về giá trị.
Ở thị trường trong nước, báo cáo của VFA cho thấy giá lúa gạo các loại hầu hết đứng yên trong tuần từ ngày 5-11/12, trừ giá gạo nguyên liệu loại 1 làm ra gạo 5% tấm (tăng 50 đồng).

 Cụ thể, giá lúa khô tại kho loại thường tại khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long dao động từ 5.450 – 5.550 đồng/kg, còn lúa dài khoảng 5.650 – 5.750 đồng/kg.



 Giá gạo nguyên liệu loại 1 làm ra gạo 5% tấm hiện khoảng 7.100 – 7.200 đồng/kg tùy từng địa phương, gạo nguyên liệu làm ra gạo 25% tấm là 6.850 – 6.950 đồng/kg tùy chất lượng và địa phương.

 Giá gạo thành phẩm 5% tấm không bao bì tại mạn hiện khoảng 8.100 – 8.200 đồng/kg, gạo 15% tấm 7.700 – 7.800 đồng/kg và gạo 25% tấm khoảng 7.350 – 7.450 đồng/kg tùy chất lượng và địa phương. 

Nguồn: Theo Trung Nghĩa - Người Đồng Hành



Thứ Hai, ngày 15 tháng 12 năm 2014

Philippines lên kế hoạch nhập khẩu 600.000 tấn gạo vào 2015


Tờ Manila Standard Today số ra ngày 12/12 cho biết, Philippines sẽ vẫn nhập khẩu gạo vào năm 2015 để tăng thêm nguồn dự trữ, một dấu hiệu cho thấy nước này còn xa mới đạt được mục tiêu tự cung tự cấp lương thực. 

 Đầu tuần này, Cơ quan Lương thực Quốc gia Philippines (NFA) bước đầu đã phê duyệt nhập khẩu 600.000 tấn gạo trong năm 2015 trong bối cảnh sản lượng lúa thấp và thiệt hại gây ra từ các cơn bão trong năm nay.

 Theo tờ báo, các quan chức ngành nông nghiệp có thể không thừa nhận điều đó, nhưng Philippines không thể cung cấp nguồn cung lương thực dồi dào cho người dân.

 Sản lượng gạo của nước này đã giảm trong 9 tháng tính từ đầu năm và không có cách nào có thể đạt được mục tiêu tự cung tự cấp, ít nhất là trong tương lai gần.

 Bộ trưởng Kế hoạch Kinh tế Arsenio Balisacan đã thừa nhận rằng sản xuất nông nghiệp bị ảnh hưởng bởi những cơn bão lớn đổ vào nước này vào đầu năm nay./.

Tìm giải pháp cho lúa gạo Việt Nam


Có một thực tế, Việt Nam xuất khẩu gạo những năm gần đây số lượng chững lại đồng thời giá trị gia tăng mang lại thấp, thu nhập của người nông dân không đủ tái sản xuất và nâng cao điều kiện sống. Cơ hội cho thị trường lúa gạo Việt Nam trong 10 năm tới sẽ như thế nào? Liệu Việt Nam có thể thay đổi được vị trí của lúa gạo trên thị trường thế giới, hay sẽ bị thụt lùi?… Đó là tâm tư của nhiều nhà nghiên cứu hàng đầu về lúa gạo và Bộ NN&PTNT tại hội thảo "Tương lai cho ngành lúa gạo Việt Nam” do Hiệp hội lương thực Việt Nam tổ chức tại TP. Cần Thơ, ngày 11-12. 


Ngành lúa gạo Việt Nam đang gặp khó 

 Lúa gạo tăng về lượng, giảm giá trị 

 Theo Tổng công ty Lương thực Miền Nam (Vinafood 2), từ năm 2012 đến nay, xuất khẩu gạo của Việt Nam chững lại về lượng, đồng thời giảm dần về giá trị do gặp nhiều khó khăn. Cụ thể, năm 2012 sản lượng gạo xuất khẩu đạt 7,72 triệu tấn nhưng đến năm 2013 chỉ đạt gần 6,7 triệu tấn, năm 2014 đạt khoảng 6,5 triệu tấn. Ông Vũ Quang Cảnh, Phó phòng Nông sản thực phẩm thuộc Tổng công ty Lương thực Miền Nam cho biết: "Khoảng 70% lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam là gạo có phẩm cấp thấp (25% tấm) nên khó tiếp cận vào các phân khúc thị trường cấp cao, còn thị trường cấp trung, cấp thấp lại có nhiều quốc gia cạnh tranh dẫn tới giá bán và lợi nhuận giảm”.

 Các chuyên gia Viện nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI) nhận định: Gạo Việt Nam số lượng nhiều, chất lượng thấp, giá thành cao nên xuất khẩu thấp, chưa hấp dẫn các nhà nhập khẩu cũng như thu hút đầu tư vào Việt Nam. Đây được xem là nguyên nhân khiến nền nông nghiệp Việt Nam phát triển thiếu tính ổn định, thiếu bền vững. Vấn đề đặt ra là cần có sự thay đổi về phương thức sản xuất và tiêu thụ.

 Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hiệp quốc (FAO) dự đoán: Đến năm 2022, Việt Nam tiếp tục là nước xuất khẩu gạo lớn thứ 2 thế giới sau Thái Lan. Tuy nhiên, vị trí này liệu có bị đe dọa khi một số nước Ấn Độ, Hoa Kỳ, Pakistan… đang thực hiện nhiều chính sách đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu lúa gạo? Đây là các đối thủ cạnh tranh trực tiếp của Việt Nam trong thời gian tới. Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) cũng dự báo: Thị trường tiêu thụ gạo trong những năm tới sẽ có nhiều triển vọng. Tuy nhiên, sẽ có nhiều khó khăn do phải chịu áp lực cạnh tranh từ các nước xuất khẩu gạo cả về phân khúc gạo cấp cao và phân khúc gạo cấp trung, cấp thấp. Do đó, vấn đề đặt ra là phải nâng cao chất lượng hạt gạo với giá thành sản xuất hợp lý, phù hợp với nhu cầu tiêu thụ của thị trường.

 Nhiều vấn đề ngành lúa gạo phải cải thiện 

 Tại hội thảo, các đại biểu cho rằng có rất nhiều vấn đề mà ngành lúa gạo cần phải cải thiện như: thay đổi phương thức sản xuất; tập quán canh tác; xây dựng thương hiệu gạo Việt Nam thông qua cách chọn tạo giống lúa, đáp ứng những nhu cầu về dinh dưỡng ngày càng gia tăng, tiết giảm tối đa tổn thất trước và sau thu hoạch trong chuỗi giá trị lúa gạo… TS. Lê Văn Bảnh, Viện trưởng Viện lúa ĐBSCL cho biết: "Đến năm 2020, dân số nước ta sẽ ở mức 100 triệu người, sản xuất lúa sẽ ngày càng khó khăn hơn vì đất sản xuất bị thu hẹp, áp lực sâu bệnh ngày càng tăng, biến đổi khí hậu ngày càng rõ nét hơn. Để phát triển ngành này thì việc xây dựng thương hiệu là cần thiết và doanh nghiệp phải có trách nhiệm làm việc này”.

 Ông Dương Quốc Xuân, Phó trưởng ban Ban chỉ đạo Tây Nam bộ cho biết: Vùng ĐBSCL vẫn chưa được chú trọng đầu tư đúng với tầm vóc của nó. Nhiều tiềm năng của vùng vẫn chưa được khai thác và phát huy. Đời sống của người dân vẫn còn khó khăn. Trong số 850 dự án có vốn đầu tư nước ngoài vào vùng ĐBSCL với tổng vốn 11 tỷ USD thì lĩnh vực nông nghiệp chỉ chiếm 6% số dự án và chiếm 2% tỷ trọng vốn. Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ đã có nhiều hoạt động nhằm thu hút đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, tập trung mạnh sản xuất lúa gạo, quy hoạch sản xuất lúa gạo, phân chia từng vùng sản xuất lúa như lúa đặc chủng, lúa hàng hóa, tổ chức hệ thống thu mua dự trữ, hệ thống chế biến xay xát hợp lý để tránh lãng phí dư thừa…

 Theo PGS.TS Mai Thành Phụng, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, các địa phương phải tiếp tục đầu tư diện tích cánh đồng mẫu lớn, trong đó cần đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất. Có như vậy mới giảm chi phí sản xuất, tăng chất lượng hạt gạo và có thị trường tiêu thụ và cuối cùng là lợi nhuận tăng lên. Có lợi nhuận, người dân mới hăng hái tham gia sản xuất, từ đó ngành lúa gạo mới phát triển theo chuỗi giá trị và bền vững…”

Nguồn: Theo Báo Đại đoàn kết



Ảm đạm thị trường lúa gạo


Mặc dù đã vào cuối vụ thu đông, sản lượng lúa trên đồng không còn nhiều nhưng do thị trường trầm lắng đã kéo giá lúa gạo tiếp tục xuống theo. 

Giá chẳng buồn “nhích” 

 Anh Lê Hồng Quân, ở xã Trường Thắng, huyện Thới Lai, TP.Cần Thơ cho biết, thị trường lúa gạo ở ĐBSCL mấy ngày nay rất “buồn ngủ” mặc dù vụ thu đông đã vào cuối vụ, lúa trên đồng không còn bao nhiêu. “Mọi năm thời điểm này thương lái buôn bán xôm tụ lắm, giá lên vì cuối vụ khan hàng. Nhưng năm nay giá chẳng thèm nhích lên, doanh nghiệp không giao dịch, thương lái cũng vắng bóng”- anh Quân nói.

 Nhiều nông dân ở ĐBSCL ôm lúa khô dự trữ tại nhà không có ai mua. 

 Năm nay, vụ thu đông khá ảm đạm với bà con, đầu vụ giá lúa còn nhích lên 5.000 – 5.100 đồng/kg lúa tươi IR 50404 (mua tại ruộng). Nhưng chỉ được mấy ngày giá lại rớt không phanh xuống còn có 4.400 đồng/kg. “Hôm qua thấy có nhích lên… 20 đồng, lên 4.420 đồng/kg. Giá này cũng chẳng ăn thua, vụ thu đông chi phí cao, nông dân chẳng có lời. Hôm nay nhà tôi đã gieo sạ vụ đông xuân mà thấy tình hình giá cả như vầy sao mà rầu quá” – anh Nguyễn Văn Tiễn, ở Hồng Ngự, Đồng Tháp, lo lắng. Còn với anh Quân, do giá cuối vụ hè thu tốt nên vào vụ thu đông anh có mua thêm lúa khô để trữ trong nhà, vì theo thông lệ mọi năm giá vụ thu đông còn tốt hơn hè thu. “Giờ thì ôm hết mười mấy tấn không biết bán cho ai” – anh Quân buồn xo.

 Xác nhận với phóng viên NTNN sáng ngày 11.12, bà Trần Thị Bông, thương lái thu mua lúa gạo ở vùng Thoại Sơn, An Giang, cho biết: “Giá lúa gạo hơn nửa tháng nay rớt mạnh từ 5.100 đồng/kg xuống còn có 4.500 đồng/kg lúa tươi IR 50404. Gạo nguyên liệu IR 50404 doanh nghiệp mua cũng giảm còn có 6.500 – 6.600 đồng/kg, giảm hơn 1.000 đồng/kg so với tháng trước. Nguyên nhân do một phần trời mưa bão, chất lượng lúa gạo giảm, một phần do doanh nghiệp ít ăn hàng, đặc biệt là thị trường tiểu ngạch qua Trung Quốc bị tắc, khiến thị trường trầm lắng hẳn”.

 Doanh nghiệp cũng than lỗ 

 Theo các doanh nghiệp xuất khẩu gạo, hiện các doanh nghiệp đã hết đầu ra, không có đơn hàng mới nên họ gần như đang ngừng giao dịch. Theo phan tích của ông Trần Thanh Văn- Phó Giám đốc Công ty Gentraco, với tình hình Thái Lan xả hàng ra, đã đẩy giá lúa gạo trên thị trường thế giới giảm. “Hiện tại, gạo 5% tấm chúng tôi hạ giá chào xuống còn có 390 USD/tấn, thậm chí 380 USD/tấn mà còn không có ai mua. Thị trường nội địa lại không có trợ lực từ thị trường Trung Quốc, đã đóng cửa biên giới mấy ngày nay, thì thử hỏi sao không trầm lắng và giá xuống”- ông Văn nói.

 Cũng chung nhận định như vậy, ông Lâm Anh Tuấn- Giám đốc Công ty Thịnh Phát cho biết hơn 3 tháng nay, công ty ông hoàn toàn ngồi chơi xơi nước, không có được một giao dịch hay hợp đồng mua bán, xuất khẩu nào. Tính cả năm 2014, công ty ông chỉ xuất khẩu được hơn có 2.000 tấn gạo, bằng 30% năm 2013. “Thú thật năm nay, doanh nghiệp nào càng làm nhiều thì càng lỗ. Thời điểm tháng 8, 9, báo chí cứ vui mừng thông tin giá gạo VN cao hơn Thái Lan 20 – 30 USD/tấn, nhưng đâu biết doanh nghiệp lỗ nặng vì giá nội địa tăng quá cao, trong khi Thái Lan lại được Chính phủ trợ giá. Nông dân nhìn ban đầu thì tưởng có lợi, nhưng về lâu dài thì có hại vì giá cao ngất ngưởng, không đúng thực tế thị trường khiến doanh nghiệp khó giao dịch và khách hàng chê mắc không mua. Thực tế đến nay đã chứng minh họ chuyển qua mua gạo Thái Lan hết và doanh nghiệp VN bị cho ra rìa khi hết các hợp đồng tập trung. Còn nông dân thì ôm hàng không ai mua khi phía Trung Quốc bỏ rơi, đóng cửa khẩu đường tiểu ngạch” – ông Tuấn phân tích.

 Theo đánh giá của các chuyên gia, thị trường lúa gạo sẽ còn tiếp tục khó khăn qua năm 2015 do thế giới đang được mùa, Thái Lan lại xả hàng, nguồn cung dồi dào, trong khi nhu cầu không tăng. Đặc biệt khi giá xăng trên thế giới đang hạ xuống thấp như hiện nay thì nhu cầu dùng lương thực sản xuất xăng sinh học không còn nhiều nữa, khiến một lượng lương thực dôi ra, tăng mức tồn kho sẽ khiến giá lương thực trong năm 2015 khó có khả năng tăng.

 Ông Lâm Anh Tuấn dự đoán: “Philippines qua năm 2015 vẫn có triển vọng sẽ tiếp tục mua gạo nhưng đây sẽ là cuộc cạnh tranh gay gắt giữa 2 nhà cung cấp truyền thống là Thái Lan và Việt Nam. Kinh doanh theo cơ chế thị trường thì chúng ta nếu muốn trúng thầu không thể bán giá cao hơn Thái Lan được. Tôi cho rằng gạo 5% tấm vào vụ đông xuân giá có thể còn xuống nữa, có khả năng xuống tới 360 USD/tấn”.

Nguồn: Theo Báo Dân Việt



Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More