Chương trình theo dõi lúa ĐB sông Hồng

Ứng dụng công nghệ viễn thám đa thời gian trong công tác theo dõi lúa trên toàn vùng đồng bằng sông Hồng. Báo cáo hàng tháng được trình lên Bộ trưởng Bộ NN và PTNT.

Sử dụng tư liệu ảnh vệ tinh độ phân giải cao về thời gian

Tư liệu ảnh vệ tinh MODIS độ phân giải 250m chụp hàng ngày được thu nhận và xử lý tạo các tổ hợp 8 và 16 ngày phục vụ công tác nghiên cứu.

Nghiên cứu hạn hán hoặc ngập lụt

Bên cạnh công tác theo dõi lúa, chương trình cũng theo dõi các thảm họa thiên nhiên ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động sản xuất nông nghiệp như hạn hán, ngập lụt...

Theo dõi sâu bệnh

Theo dõi diện tích lúa bị sâu bệnh bằng phương pháp viễn thám, từ đó đưa ra mức độ cảnh báo về năng suất, chất lượng của mùa vụ.

Theo dõi quá trình xâm thực mặn

Phương pháp viễn thám được sử dụng trong công tác theo dõi xâm thực mặn từ biển gây ảnh hưởng đến quá trình canh tác sản xuất nông nghiệp và đời sống người dân...

Báo cáo kết quả trực tuyến

Các báo cáo được đăng tải hàng tháng trên trang web http://theodoilua.blogspot.com cùng bộ bản đồ trực tuyến xây dựng theo công nghệ WebGIS...

Thứ Năm, ngày 17 tháng 4 năm 2014

Người trồng lúa vơi bớt âu lo

Việt Nam vừa trúng thầu cung ứng 800.000 tấn gạo cho Philippines. Thông tin này như “cơn mưa rào” xóa bớt đi những lo âu cho người trồng lúa đồng bằng sông Cửu Long đang bước vào vụ mùa mới.

Nông dân mừng

Mặc dù đến trưa ngày 15.4 mới có kết quả đấu thầu hợp đồng cung ứng 800.000 tấn gạo cho Philippines nhưng từ 1, 2 ngày trước đó, giới thương lái và người trồng lúa đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đã rộn ràng. Người này í ới gọi, nhắn tin cho người kia, phỏng đoán kết quả này nọ. Thương lái còn gọi cả cho phóng viên để mong biết được thông tin sớm nhất. Và nhờ không khí rộn ràng đó, giá lúa ngày 15.4 trước giờ G đã nhích lên 100 đồng/kg, trước tiên là ở Tiền Giang, sau đó đến cuối ngày và qua ngày hôm sau đã lan ra tăng đều ở các tỉnh thành khác.


Có hợp đồng xuất khẩu mới, nông dân kỳ vọng giá lúa sẽ tăng lên.

Ông Dương Văn Mến, thương lái thu mua lúa gạo ở Cái Bè, Tiền Giang cười khà khà: “Tụi tôi biết chắc thế nào Việt Nam cũng trúng thầu, kinh nghiệm bao nhiêu năm mình đấu thầu ở nước này rồi. Vì thế nên “đón đầu” mua trước, chứ để khi có kết quả, giá mắc hơn là cái chắc”.

Bà Trần Thị Bông, thương lái ở Thoại Sơn, An Giang cũng cười: “Mấy ông ở Tiền Giang, Long An nhạy lắm. Chúng tôi ở đây đến chiều tối 15.4 mới biết. Ngay lập tức sáng hôm sau giá lúa đã tăng lên 50 đồng/kg và tới chiều thêm 50 đồng/kg nữa. Hiện lúa tươi IR 50404 đang ở mức 4.400 đồng/kg. Giá gạo cũng đã nhích lên 50 đồng/kg hiện ở mức 6.500 đồng/kg”.

Nghe được thông tin Việt Nam trúng thầu một số lượng lớn lúa gạo như thế, chị Thu Hằng ở Châu Phú, Đồng Tháp mừng muốn rơi nước mắt. Giọng chị vỡ òa: “Hèn chi sáng nay thấy lúa tăng giá mà không biết lý do tại sao. Vụ đông xuân vừa rồi gia đình mới gặt bán lỗ mất 5 triệu đồng, do lệnh kiểm tra tải trọng xe tải làm tắc đường tiêu thụ ra Bắc xuất qua Trung Quốc nên giá lúa rớt mạnh. Gia đình đang lo ngay ngáy cho vụ hè thu. Nay có thông tin này thì gia đình yên tâm sản xuất rồi”.

Theo ông Nguyễn Hùng Linh- Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), do thời gian giao hàng rải đều từ tháng 5 đến hết tháng 8.2014, đúng ngay thời điểm bà con làm vụ hè thu nên VFA hy vọng hợp đồng cung ứng 800.000 tấn gạo cho Philippines sẽ giúp giữ giá lúa vụ mùa này ổn định, không rớt sâu như mọi năm. Đặc biệt, hợp đồng này còn giúp VN có khách hàng tăng đối trọng hơn một chút so với Trung Quốc, từ đó giảm bớt sự lệ thuộc vào thị trường này, như nửa tháng qua khi các doanh nghiệp tắc bị nghẽn đường xuất hàng mậu biên qua Trung Quốc do lệnh kiểm tra tải trọng xe tải, thì ngay lập tức giá lúa rớt 200 đồng/kg.

Giá sẽ không tăng nhiều?

Mặc dù cũng vui mừng trước thông tin trúng thầu nhưng nhiều doanh nghiệp xuất khẩu gạo lại tỏ vẻ trầm tư và lo lắng nhẹ.

Ông Trần Thanh Văn- Phó Giám đốc Công ty Gentraco (Cần Thơ), phân tích rằng lợi ích chính trong việc VN trúng thầu lần này là giúp cho việc tiêu thụ hàng hóa cuối vụ đông xuân, bước qua vụ hè thu được thuận lợi hơn. Từ đó giúp giữ giá và đẩy giá lên chút đỉnh cho bà con nông dân có lời, đặc biệt ở vụ hè thu, lúa chất lượng kém hơn vụ đông xuân nên giá thường rớt. Tuy nhiên, do giá ký kết hợp đồng lần này không cao nên nếu giá lúa gạo trong nước tăng quá cao, doanh nghiệp sẽ không mua nổi vì lỗ.

Cuối năm 2013, VN đã vượt qua đối thủ Thái Lan để giành hợp đồng cung ứng 500.000 tấn gạo (Campuchia rút lui vào phút chót) cho Philippines. Năm nay một lần nữa Việt Nam lại vượt qua đối thủ “nặng ký” Thái Lan và một số công ty đa quốc gia để trúng gói thầu 800.000 tấn gạo.

“Với giá ký 370 USD/tấn thì tương ứng giá gạo nguyên liệu IR 50404 doanh nghiệp mua vào là 6.500 đồng/kg, lên 6.600 đồng/kg là doanh nghiệp lỗ ngay. Tương ứng đó là giá lúa tươi mua tại ruộng của nông dân khoảng 4.400 – 4.500 đồng/kg. Chính vì thế tôi cho rằng giá cả nên xoay quanh ở mức này vừa đảm bảo nông dân có lời mà doanh nghiệp cũng dễ thở ” – ông Văn chỉ ra.

Đồng tình quan điểm trên, ông Lâm Anh Tuấn - Giám đốc Công ty Lương thực Thịnh Phát (Bến Tre) cũng đánh giá rằng Việt Nam trúng thầu hợp đồng cung ứng 800.000 tấn gạo cho Philippines sẽ giúp cho các doanh nghiệp yên tâm về mặt đầu ra trong bối cảnh tình hình xuất khẩu đang khó khăn như hiện nay, nhất là những doanh nghiệp có mua tạm trữ vụ đông xuân vừa qua. Hợp đồng tập trung còn giúp VN định hình giá cho thị trường xuất khẩu. “Giá cả sẽ nhích lên là điều chắc chắn nhưng nếu tăng quá 4.500 đồng/kg lúa tươi IR 50404, doanh nghiệp lỗ sẽ không dám mua nữa như năm ngoái. Khi đó, thị trường tiêu thụ chậm lại, giá giảm thì lợi bất cập hại” – ông Tuấn phân tích.

Hiện Trung Quốc và Philippines là 2 thị trường xuất khẩu lớn nhất và nhì của Việt Nam. Philippines trong quý I/2014 đã mua đến 31% tổng khối lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam, hơn 365.000 tấn. Còn Trung Quốc mua trên 40% với hơn 487.000 tấn. Tính đến ngày 13.4, lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam là 1,4 triệu tấn. Dự kiến đến hết tháng 4, Việt Nam sẽ xuất khẩu thêm khoảng 600.000 tấn, nâng tổng lượng gạo xuất khẩu 4 tháng đầu năm đạt 2 triệu tấn. Giá gạo xuất khẩu bình quân của Việt Nam là 390 đôla Mỹ/tấn.

Phụng Anh


VFA: Xuất khẩu gạo sẽ khả quan hơn trong quý 2

Ước tính lượng gạo xuất khẩu trong quý 2/2014 đạt khoảng từ 2-2,4 triệu tấn.

Tại Hội nghị giao ban trực tuyến do Bộ Công Thương tổ chức sáng 7/4, ông Huỳnh Minh Huệ, Phó chủ tịch Hiệp hội lương thực Việt Nam (VFA) cho biết, nhờ các hợp đồng đã ký từ năm trước nên lượng gạo xuất khẩu trong quý 2 có thể khả quan hơn, với sản lượng đạt được từ 2-2,4 triệu tấn.

Báo cáo của VFA, kết quả xuất khẩu gạo của Việt Nam trong tháng Ba đạt 583.294 tấn, trị giá FOB đạt 256,184 triệu USD. So với tháng Hai, lượng gạo xuất khẩu tăng 77,7%, trị giá tăng 75,42%. Tuy nhiên, lũy kế từ đầu năm, lượng xuất khẩu đạt 1,219 triệu tấn, tương ứng trị giá 529,77 triệu USD, giảm 15,41% về lượng và 9% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.

Nguyên nhân sụt giảm mạnh trong quý 1, theo lãnh đạo VFA là do phải cạnh tranh gay gắt với gạo của Thái Lan, Pakistan và Ấn Độ, đặc biệt là chính sách đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Thái Lan đã kéo mặt bằng giá đi xuống.

Bên cạnh đó, nhu cầu nhập khẩu tại các thị trường chủ lực của Việt Nam cũng đang suy giảm, ước tính lượng gạo xuất khẩu sang Trung Quốc chiếm khoảng 40% nhưng trong quý 1 đã giảm trên 20% so với cùng kỳ; ngoài ra thị trường châu Mỹ và Cuba giảm hơn 51%; châu Phi giảm gần 63%.

Về quyết định mua tạm trữ 1 triệu tấn gạo của Thủ tướng Chính phủ, lãnh đạo Hiệp hội lương thực cho biết, hiện các địa phương đã đẩy nhanh việc thu mua, giúp giải quyết một phần đầu ra cho người nông dân và ngay những ngày đầu đã nâng giá lúa lên từ 200 - 500 đồng/kg. Tuy nhiên, do thời gian thu mua ngắn và số lượng mua tạm trữ còn ít so với nguồn cung thực tế nên giá gạo đã nhanh chóng giảm trở lại.

Tính đến thời điểm hiện tại, các doanh nghiệp trong nước đã thu mua tạm trữ được khoảng hơn 500.000 tấn quy gạo, đạt hơn 50% kế hoạch. Tuy nhiên, với mức giá 4.200 - 5.000 đồng/kg lúa tươi như hiện nay, mục tiêu có lãi 30% của nông dân là không thể đạt được.

Trước tình hình trên, thứ trưởng Bộ Công thương Lê Dương Quang đã yêu cầu các đơn vị chức năng phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đảm bảo đủ gạo cho xuất khẩu, đồng thời đề xuất biện pháp nhằm tiêu thụ hết lúa gạo cho nông dân với mức lãi phù hợp.

Lãnh đạo bộ cũng yêu cầu Cục Quản lý thị trường kiểm soát chặt chẽ việc xuất khẩu qua đường tiểu ngạch, can thiệp kịp thời không để giá gạo có những biến động gây ảnh hưởng đến người tiêu dùng./.

TTXVN



Long An: “Cánh đồng lớn” đạt năng suất 8,9 tấn/ha

Hiện nay, đã có gần 3.000 hộ nông dân ở các huyện vùng Đồng Tháp Mười (tỉnh Long An) tham gia mô hình "cánh đồng lớn" và đã thu hoạch dứt điểm với tổng diện tích 10.134 ha, năng suất đạt 8,9 tấn/ha, trong đó 30% hộ đạt năng suất 10 tấn/ha, tăng so với canh tác ngoài mô hình 0,9 tấn/ha. Đây là năm đầu tiên người dân nơi đây đạt năng suất cao nhất từ trước đến nay.

Kết quả trên l à nhờ nông dân trong vùng tuân thủ thực hiện theo hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật thuộc Công ty Bảo vệ thực vật An Giang, sử dụng máy sạ hàng để gieo sạ tiết kiệm 20 - 30 kg lúa giống/ha; sử dụng các giống lúa xác nhận kháng sâu bệnh như OM 4900, MLT 110, OM 499, 4088, 5930, IR 3536; ghi nhật ký thăm đồng hàng tuần để giúp cán bộ kỹ thuật kịp thời xử lý và hướng dẫn kỹ thuật nông dân đẩy mạnh thâm canh. Bên cạnh đó, nông dân cũng tuân thủ lịch bón phân và phun thuốc phòng trừ sâu bệnh.

Lúa thu hoạch từ "cánh đồng lớn" được Công ty Bảo vệ thực vật An Giang bao tiêu toàn bộ sản phẩm nên nông dân rất phấn khởi. Giá thu mua cũng được Công ty mua cao hơn bên ngoài, vì chất lượng lúa cao. Ngoài ra, chi phí sản xuất lúa trong mô hình cũng thấp hơn bên ngoài cánh đồng 3 triệu đồng/ha./.

TTXVN



Đồng bằng sông Cửu Long bảo đảm an ninh lương thực cho cả nước

Theo Ban chỉ đạo Tây Nam bộ, Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) vừa được Chính phủ quy hoạch là vùng sản xuất lúa trọng điểm của cả nước với nhiệm vụ bảo đảm an ninh lương thực quốc gia.

Theo đó, từ nay đến năm 2030, các tỉnh ĐBSCL ổn định diện tích trồng lúa 1,8 triệu ha, trong đó có 1 triệu ha lúa xuất khẩu; sản xuất theo cơ cấu 1 vụ lúa đông xuân, 1 vụ hè thu, 1 vụ thu đông hoặc lúa mùa hàng năm và được quay vòng 2 đến 3 lần để có diện tích trồng lúa 4,2 triệu lượt ha. Từ nay đến năm 2020, toàn vùng ổn định sản lượng mỗi năm từ 24 đến 25 triệu tấn lúa, từ năm 2020 – 2030 ổn định 24 triệu tấn lúa. Mô hình canh tác chủ yếu là đa canh, luân canh, kết hợp với trồng các loại cây trồng cạn; trồng lúa kết hợp với nuôi trồng thủy sản để vừa duy trì sản lượng lúa, vừa tăng thêm thu nhập, khai thác đất đai, mặt nước có hiệu quả hơn.

Bên cạnh đó, các tỉnh ven biển sẽ đưa thêm 80.000 ha lúa mùa 1 vụ vào nuôi thêm 1 vụ thủy sản theo mô hình lúa tôm, lúa cá, nâng diện tích thực hiện theo mô hình này lên 200.000 ha. Mặt khác, với diện tích đất trồng từ 2 đến 3 vụ lúa, các tỉnh chuyển trên 110.000 ha sang trồng các loại cây cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến trong nước, nhằm thay thế nguyên liệu nhập khẩu, như ngô, đậu nành… Ngoài ra, các tỉnh cũng đưa 280.000 ha vườn tạp, đất lúa kém hiệu quả, đất nông nghiệp trong lâm phần chuyển sang chuyên canh cây ăn quả, trồng cỏ nuôi gia súc.

Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, hiện các cơ quan khoa học và các tỉnh đang phối hợp lai tạo các giống lúa mới thích nghi với biến đổi khí hậu, kháng sâu bệnh, năng suất cao, phẩm chất gạo tốt, trong đó ưu tiên lai tạo các giống lúa thích nghi với điều kiện bất lợi sinh học (sâu bệnh) và phi sinh học (lũ lụt, hạn, mặn, phèn, thay đổi khí hậu)… Bên cạnh đó, nhằm đưa diện tích sử dụng giống đạt chuẩn lên 70% vào năm 2015, các tỉnh đã xã hội hóa công tác nhân giống 3 cấp gồm: siêu nguyên chủng, nguyên chủng và xác nhận để cung ứng cho nông dân.

Cùng với đó, các tỉnh cũng đẩy mạnh cơ giới hóa các khâu thu hoạch, phơi sấy, bảo quản nhằm giảm tối đa thất thoát; phổ biến rộng khắp kỹ thuật canh tác lúa bền vững, mở rộng vùng sản xuất lúa sạch, chất lượng cao, đáp ứng tốt nhu cầu trong nước và xuất khẩu đang tăng lên. Sau năm 2015, các tỉnh mở rộng qui trình canh tác lúa theo vùng sinh thái và quy trình Gap nhằm tạo ra lượng lúa gạo sạch, chiếm từ 40% diện tích lúa trở lên; đồng thời đổi mới công nghệ chế biến lúa gạo thành các sản phẩm có giá trị cao để giảm phụ thuộc vào xuất khẩu.

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đến năm 2020, dân số cả nước sẽ lên tới 100 triệu người, đến năm 2030 sẽ tăng lên 110 triệu người, khi đó, tổng nhu cầu lúa lần lượt sẽ ở mức 35 triệu và trên 37 triệu tấn./.

TTXVN


Xây dựng cơ cấu giống lúa phù hợp xuất khẩu

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn vừa ban hành Kế hoạch sản xuất giống lúa vùng ĐBSCL giai đoạn 2014-2015 với mục tiêu xác định được cơ cấu giống lúa phù hợp cho toàn vùng ĐBSCL và từng địa phương;đáp ứng yêu cầu nâng cao giá trị gia tăng gạo xuất khẩu; đồng thời, nâng cao năng lực sản xuất và quản lý chất lượng giống lúa.

Một trong các nhiệm vụ được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đưa ra là xây dựng cơ cấu giống lúa hợp lý, phù hợp thị trường xuất khẩu, giảm số lượng giống, giảm tỷ lệ gieo trồng giống chất lượng trung bình – thấp. Hàng năm, trước vụ đông xuân, Hiệp hội Xuất khẩu gạo cần đưa ra dự kiến cơ cấu xuất khẩu của năm tiếp theo đối với các nhóm lúa gạo để làm định hướng sản xuất.

Cục Trồng trọt trên cơ sở dự kiến thị trường của Hiệp hội xuất khẩu gạo, bộ giống lúa hiện có, điều kiện các tiểu vùng sinh thái đưa ra cơ cấu giống lúa cho vùng ĐBSCL theo hướng mỗi vụ cần xác định 6-8 giống chủ lực cho toàn vùng, trước mắt xác định 4-5 giống chủ lực chất lượng cao, phục vụ ổn định cho các dự án “Cánh đồng lớn” toàn vùng trong giai đoạn 2014-2015.

Bộ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng yêu cầu đẩy mạnh liên kết thực hiện “Cánh đồng lớn”, xây dựng vùng nguyên liệu lúa giữa nông dân và doanh nghiệp xuất khẩu năm 2014 đạt 300.000ha, năm 2015 đạt 500.000ha nhằm từng bước sử dụng giống theo yêu cầu thị trường và chất lượng đạt cấp xác nhận.
Bên cạnh đó, tăng cường quản lý nhà nước trong việc khảo nghiệm, công nhận, bảo hộ quyền tác giả giống lúa, quản lý chất lượng hạt giống; thanh tra, kiểm tra sản xuất, kinh doanh giống lúa.

Trong năm 2014, Cục Trồng trọt tổ chức đánh giá các nguồn siêu nguyên chủng khác nhau của các giống lúa chủ lực (Jasmine 85, IR50404, OM4900…) xác định nguồn giống chuẩn, đồng nhất để sử dụng toàn vùng ĐBSCL.

Dân Việt


Báo cáo thống kê 2014


Phụ lục
 
Báo cáo
Báo cáo thống kê tháng 3/2014






Phụ lục
 
Báo cáo
Báo cáo thống kê tháng 2/2014






Phụ lục
 
Báo cáo
Báo cáo thống kê tháng 1/2014





Bắc Ninh: Công thức luân canh 4 vụ cho hiệu quả cao

Những năm gần đây diện tích đất nông nghiệp tỉnh Bắc Ninh liên tục giảm do quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa, vì vậy chính quyền và nhân dân thôn Trại Đường, xã Nhân Hòa, huyện Quế Võ đã xây dựng phương thức luân canh hợp lý, đem lại hiệu quả cao, trong đó phần lớn diện tích đất canh tác được áp dụng theo công thức luân canh 3 - 4 vụ/năm.

Là thôn thuần nông, tổng diện tích đất nông nghiệp của Trại Đường xấp sỉ 600ha, chủ yếu là chân đất vàn và vàn cao nên ngoài cây lúa, chính quyền và nhân dân trong thôn đã tích cực học hỏi các địa phương trong và ngoài tỉnh phát triển sản xuất nhiều loại cây rau màu. Hiện nay bà con nông dân Trại đường đang áp dụng hai công thức luân canh 4 vụ rất có hiệu quả: Công thức 1: Lúa xuân - Dưa lê hè - Lúa mùa - Khoai tây đông, được áp dụng trên các chân đất vàn. Công thức 2: Khoai tây xuân - Lạc hè (Dưa lê sớm) - Lúa mùa - Rau đông, được áp dụng trên chân đất vàn cao.


Với công thức xen canh 4 vụ, bà con thôn Trại Đường có thu nhập từ 14 -15 triệu đồng/sào/năm.

Để tranh thủ thời vụ Ban quản lý (BQL) Hợp tác xã (HTX), Câu lạc bộ (CLB) đã khuyến khích các hộ, các thành viên câu lạc bộ trong thôn cấy các giống lúa ngắn ngày, gieo mạ sớm, cấy đầu lịch để thu hoạch lúa sớm (vào cuối tháng 5) nhằm kịp thời gian trồng dưa lê; ngoài ra bà con cũng cần đăng ký sớm để có nguồn giống khoai tây nhập khẩu tốt cho nhân giống vụ xuân, chuẩn bị tốt nguồn lạc giống để trồng lạc vụ hè thu.

Dưa lê hè trồng trên đất lúa thường được các hộ chuẩn bị, chủ động gieo giống vào bầu trước khi thu hoạch lúa từ 10 -15 ngày, để khi bắt đầu gặt lúa là có thể đặt dưa.

Xác định cây vụ đông là nguồn thu nhập chính, với điều kiện chủ yếu là đất thịt nhẹ, pha cát, nhiều năm qua chính quyền và nhân dân thôn Trại Đường đã chọn khoai tây làm cây trồng chiến lược trong công thức luân canh 4 vụ. Được sự hỗ trợ của UBND tỉnh, một số hộ nông dân trong thôn mạnh dạn xây kho lạnh để chủ động bảo quản và đảm bảo giống tốt phục vụ sản xuất. Do vậy năng suất khoai tây của Trại Đường nhiều năm qua luôn đạt năng suất cao hơn nhiều nơi khác trong huyện Quế Võ và trong tỉnh, thường đạt từ 170 - 180tạ/ha (6 - 7 tạ/sào).

Nói về công thức luân canh 4 vụ của thôn ông Nguyễn Văn Vĩnh - trưởng thôn Trại Đường rất phấn khởi, song có phần khiêm tốn, ông cho biết, do trồng dưa lê xen giữa 2 vụ lúa nên việc lựa chọn giống và thời vụ gieo trồng thường được chính quyền thôn và nhân dân tính toán bàn bạc rất kỹ: giống lúa cần chọn các giống ngắn ngày như Khang Dân 18, Hoa Khôi 4, VH1; vụ xuân phải gieo cấy đầu trà xuân muộn, vụ mùa phải gieo cuối trà mùa trung nên công tác chăm sóc, phòng trừ dịch hại cũng có một số khó khăn và phải quan tâm, quyết liệt hơn và phải biết chấp nhận năng suất lúa thấp hơn bình thường.

Về hiệu quả ông Vĩnh khẳng định: “Ngoài sản lượng thóc đảm bảo đủ lương thực tại chỗ, thì cả hai công thức luân canh kể trên, mỗi năm tổng thu nhập trên mỗi ha đất canh tác luôn đạt khoảng 400 triệu đồng (14 -15 triệu đồng/sào/năm), nên rất hiệu quả”.

Nhiều năm qua đời sống, kinh tế nhân dân trong thôn được nâng lên đáng kể nhờ áp dụng 2 công thức luân canh này. Với 1-2 vụ lúa người dân trong thôn đã đảm bảo được nguồn lương thực tại chỗ, còn vụ dưa lê xen giữa 2 vụ lúa, lạc và khoai tây đông, khoai tây xuân là nguồn thu nhập quan trọng để cải thiện đời sống người dân nơi đây.

“Với tổng thời gian sinh trưởng 60 - 65 ngày, mỗi sào dưa lê cho thu nhập thêm 4-5 triệu đồng/vụ, khoai tây đông thường cho thu nhập từ 7 – 9 triệu đồng/sào/vụ. Đối với khoai tây xuân được tỉnh hỗ trợ 70% giá giống nhập nội, hiện các hộ rất tích cực trồng, chăm bón để chủ động nguồn giống tốt cho vụ đông năm tiếp theo. Ông Nguyễn Mạnh Nhân, Chủ nhiệm câu lạc bộ Khuyến nông thôn Trại Đường .

Hiện nay, cả tỉnh Bắc Ninh đang đẩy mạnh quy hoạch và triển khai xây dựng nông thôn mới, ngoài việc xây dựng mới, cải tạo kết cấu hạ tầng cơ sở, dồn điền đổi thửa…, thì việc nghiên cứu điều kiện đất đai, tham khảo các mô hình sản xuất trong và ngoài tỉnh để tổ chức thực hiện các công thức luân canh theo thực tế tại các địa phương như ở thôn Trại Đường là rất quan trọng. Đây là một nội dung rất quan trọng trong việc quy hoạch, xây dựng nông thôn mới ở các địa phương trên địa bàn tỉnh theo hướng vừa thiết thực vừa có hiệu quả bền vững./.


Nguyễn Công Cường
Trung tâm Khuyến nông khuyến ngư Bắc Ninh



Bình Định: Tổng kết mô hình thâm canh lúa nước tại xã vùng cao An Vinh

Ngày 8/4/2014, tại xã vùng cao An Vinh (huyện An Lão), Trung tâm Khuyến nông khuyến ngư tỉnh đã tổ chức Hội thảo tổng kết mô hình trình diễn thâm canh lúa nước.

Mô hình được tổ chức sản xuất tại Đồng Tum thuộc thôn 3, xã An Vinh, với quy mô 4 ha, bằng giống lúa thuần OM 6976, có 31 hộ đồng bào dân tộc H’rê trực tiếp tham gia. Trong quá trình thực hiện mô hình mặc dù gặp nhiều khó khăn như điều kiện thời tiết miền núi khắc nghiệt, đồng ruộng bậc thang có độ phì thấp, trình độ sản xuất, nhất là sản xuất lúa nước của bà con đồng bào dân tộc còn hạn chế.

Kết quả sau gần 4 tháng thực hiện, với sự nhiệt tình của cán bộ kỹ thuật Trung tâm Khuyến nông Khuyến ngư, trạm Khuyến nông huyện bằng phương pháp chuyển giao cầm tay chỉ việc, kết hợp tập huấn với thực hành trên đồng ruộng đã giúp bà con tham gia mô hình nắm bắt cơ bản quy trình sản xuất thâm canh lúa nước với giống lúa thuần mới. Bản thân bà con nông dân đã tin tưởng vào cán bộ kỹ thuật, nhiệt tình tự giác thực hiện các khâu công việc được cán bộ kỹ thuật hướng dẫn, thực hiện chăm bón đầy đủ nên cây lúa sinh trưởng và phát triển khá tốt. Ở giai đoạn cuối vụ, thời tiết rét lạnh kèm theo sương mù và mưa đã làm phần lớn diện tích lúa trong mô hình nhiễm bệnh đạo ôn và đốm nâu, tuy nhiên với sự hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật Trung tâm và trạm khuyến nông bà con đã tổ chức phun thuốc phòng trừ kịp thời nên đã bảo vệ được cây lúa phát triển tốt. Đến nay mô hình đã cho kết quả khả quan, năng suất lúa của mô hình đạt bình quân 55,1 tạ/ha, cao hơn gấp 1,5 lần lúa ngoài mô hình và vượt so với kế hoạch đề ra.

Kết quả mô hình có tính thuyết phục cao đối với bà con địa phương. Mô hình giúp đồng bào H’rê ở xã An Vinh nắm bắt kỹ thuật trồng lúa nước, biết áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, giảm chi phí đầu tư, tăng hiệu quả kinh tế, góp phần giúp người dân ổn định cuộc sống. Tại Hội thảo một số bà con tham gia mô hình đã phát biểu: “Trước đây với tập quan canh tác cũ lạc hậu, sản xuất các giống lúa cũ nếu cố gắng lắm, năm nào được mùa năng suất lúa của bà con cũng chỉ đạt khoảng 40 tạ/ha, nay được cán bộ khuyến nông đưa giống lúa mới về hướng dẫn sản xuất đúng quy trình kỹ thuật, năng suất cao gấp 1,5 lần bà con rất mê, mong muốn Đảng và nhà nước tiếp tục đưa các giống lúa mới, các loại cây trồng có năng suất cao khác, cử nhiều cán bộ kỹ thuật về để hướng dẫn bà con sản xuất đạt hiệu quả cao hơn; bà con sẽ không còn phải lo cái đói, cái nghèo nữa”. Từ kết quả này trong thời gian tới Sở Nông nghiệp-PTNT, Trung tâm Khuyến nông khuyến ngư sẽ tiếp tục quan tâm, tổ chức nhân rộng Mô hình này, đồng thời đẩy mạnh hỗ trợ chuyển giao các tiến bộ KHKT mới trong sản xuất Nông nghiệp cho bà con đồng bào dân tộc các xã vùng cao, vùng đặc biệt khó khăn, giúp bà con chủ động phát triển sản xuất có hiệu quả, thực hiện giảm nghèo một cách bền vững.

Phan Thanh Sơn - TTKNKN Bình Định



Chỉ đạo sản xuất vụ Đông Xuân 2013-2014

Ngày 14/4/2014, Cục Trồng trọt có công văn gửi Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh phía Bắc để chỉ đạo sản xuất vụ Đông Xuân 2013-2014.

Ngày 14/4/2014, Cục Trồng trọt có công văn gửi Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh phía Bắc để chỉ đạo sản xuất vụ Đông Xuân 2013-2014. Theo báo cáo của các địa phương, tổng diện tích lúa vụ Đông xuân 2013-2014 của các tỉnh Bắc Bộ khoảng 795 nghìn ha, vùng Bắc Trung Bộ (BTB) là 344 nghìn ha, đạt 100% kế hoạch. Tuy nhiên, do điều kiện rét kéo dài, đặc biệt nhiệt độ trung bình ngày và số giờ nắng trong tháng 2 và tháng 3 thấp hơn trung bình nhiều năm nên lúa Xuân sinh trưởng phát triển chậm, bệnh đạo ôn phát sinh mạnh tại một số địa phương vùng đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) và BTB trên các giống nhiễm; dự kiến thời gian sinh trưởng của lúa sẽ chậm so với trung bình nhiều năm từ 7-10 ngày tuỳ theo từng trà lúa.

Để chăm sóc lúa kịp thời, hạn chế thấp nhất ảnh hưởng của thời tiết và sâu bệnh hại, đảm bảo thắng lợi sản xuất lúa vụ Đông Xuân 2013-2014, đề nghị Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phía Bắc tập trung chỉ đạo một số nội dung sau:

1. Với trà lúa Xuân gieo sớm (nhóm dài ngày, trung ngày gieo cấy trước Tết Nguyên đán) lúa đã đẻ nhánh tối đa và đang giai đoạn phân hoá đòng, để hạn chế nhánh vô hiệu cần tháo cạn nước mặt ruộng, phơi ruộng đến cứng nền để rễ lúa ăn xuống, giúp cây cứng, khỏe và chống đổ tốt; sau 5-7 ngày tiếp tục cho nước, kết hợp bón bổ sung kali, sau đó duy trì mực nước ruộng từ 2-3 cm, tạo điều kiện cho lúa làm đòng và trỗ bông thuận lợi; không bón thêm phân đạm để hạn chế lúa đẻ lai rai, đặc biệt trên những diện tích lúa bị nhiễm bệnh đạo ôn.

2. Những chân ruộng và trà lúa gieo cấy sau Tết Nguyên đán và bị thiệt hại do rét, hiện lúa đang trong giai đoạn đẻ nhánh rộ đến đứng cái cần kết thúc chăm sóc sớm, bón tập trung và cân đối N-P-K; chân ruộng lúa chưa đẻ kín đất nên phun bổ sung phân qua lá, các chất hỗ trợ sinh trưởng.

3. Với diện tích lúa gieo cấy muộn ở một số tỉnh Trung du miền núi phía Bắc, phải bón thúc sớm, bón tập trung, tăng cường sử dụng phân N.P.K tổng hợp. Trên các chân ruộng nghèo dinh dưỡng, khả năng giữ nước kém có thể kết hợp phun bổ sung dinh dưỡng bằng các loại phân bón lá, duy trì mực nước trên ruộng từ 2-3 cm để lúa đẻ nhánh, sinh trưởng, phát triển nhanh.

4. Khuyến cáo và hướng dẫn nông dân thường xuyên thăm đồng, phát hiện và phòng trừ kịp thời sâu, bệnh và chuột hại lúa, đặc biệt đối với các đối tượng như bệnh đạo ôn, rầy nâu, sâu cuốn lá, sâu đục thân và chuột theo chỉ đạo của chuyên ngành BVTV,…

5. Lúa Đông Xuân năm nay sẽ trỗ muộn hơn so với những năm bình thường khoảng 7-10 ngày; do vậy, các địa phương cần chủ động xây dựng đề án sản xuất vụ Hè Thu, vụ Mùa gắn với vụ Đông trên cơ sở bố trí lịch gieo cấy, cơ cấu giống và các giải pháp kỹ thuật phù hợp, chuẩn bị đủ giống và vật tư cho vụ tiếp theo.

Tiếp tục hoàn thiện, điều chỉnh đề án tái cấu trúc và chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tổ chức sản xuất "cánh đồng lớn", liên kết sâu với doanh nghiệp, mạnh dạn chuyển đổi từ lúa sang các cây rau màu khác có thị trường tiêu thụ, hiệu quả hơn so với trồng lúa.

6. Phân công lãnh đạo, cán bộ chuyên môn thường xuyên bám sát cơ sở, tăng cường công tác dự tính, dự báo, hướng dẫn nông dân thực hiện các biện pháp kỹ thuật nhằm khắc phục kịp thời ảnh hưởng của thời tiết, sâu bệnh và chuột hại đến sinh trưởng, phát triển của cây lúa.

7. Tăng cường công tác thông tin tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, thường xuyên đưa tin chỉ đạo, hướng dẫn các biện pháp chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh hại lúa để nông dân nắm bắt kịp thời và áp dụng trong sản xuất đạt hiệu quả.

8. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc kinh doanh phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, nhằm ngăn chặn tình trạng tăng giá, hàng giả, hàng kém chất lượng làm thiệt hại tới sản xuất và thu nhập của nông dân.

Trên đây là một số nhiệm vụ cần triển khai để thực hiện tốt kế hoạch sản xuất vụ Đông Xuân 2013-2014; đề nghị Sở Nông nghiệp và PTNT các tỉnh, thành phía Bắc triển khai thực hiện và báo cáo kịp thời về Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

BBT



Thứ Tư, ngày 16 tháng 4 năm 2014

Nâng tầm vóc hạt gạo Vua Hùng

Giỗ Tổ Hùng Vương (mồng 10-3 âm lịch), người Việt Nam ta ai cũng nhớ đến truyền thuyết chàng Lang Liêu dâng lên Vua Hùng bánh chưng, bánh giầy-loại bánh được làm từ hạt gạo dẻo thơm. Từ thuở ấy, dân tộc Việt ta đã coi lúa gạo là thực phẩm chủ yếu nhất, là “hạt ngọc của trời”. Nền văn minh lúa nước được hình thành từ nghìn đời cũng đã góp phần hình thành nên những đức tính tốt đẹp của người Việt: Siêng năng, cần cù, nhân ái, không quản ngại khó khăn, vất vả…

Tiếp nối và phát triển nền văn minh lúa nước, thông qua những chủ trương đúng đắn trong phát triển nông nghiệp nói chung, đặc biệt là ưu tiên phát triển trồng lúa nói riêng, Việt Nam đã trở thành quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới. Đây là niềm tự hào, phấn khởi của tất cả các thế hệ con cháu Vua Hùng. Thế nhưng bên cạnh thành tựu lớn ấy, mấy năm gần đây, việc trồng cấy và xuất khẩu gạo gặp không ít khó khăn: Khí hậu, thời tiết ngày càng khắc nghiệt, thường xuyên có thiên tai; phát triển công nghiệp và đô thị hóa làm mất khá nhiều diện tích “bờ xôi, ruộng mật” trồng lúa; thị trường xuất khẩu không ổn định, không có lợi thế cạnh tranh mà nguyên nhân chủ yếu do chất lượng gạo của ta chưa cao… Xuất khẩu gạo Việt Nam tăng chủ yếu về số lượng chứ không tăng nhiều về giá trị, chất lượng. Trước thực trạng này, Bộ Công Thương đã bày tỏ nỗi lo: Những năm trước đây, thế mạnh của Việt Nam là xuất khẩu gạo cấp thấp. Nhưng hiện nay, nếu chỉ sản xuất gạo cấp thấp thì khó có thể cạnh tranh trên thị trường thế giới…

Ở thị trường nội địa, giá gạo thấp trong khi giá vật tư nông nghiệp tăng cao khiến một số nơi nông dân không mặn mà trồng lúa, để hoang ruộng đồng, bỏ ra thành thị hoặc đi xuất khẩu lao động, kiếm sống bằng những nghề khác, mang theo nhiều hệ lụy đáng lo ngại.

Truyền thuyết bánh chưng, bánh giầy giàu ý nghĩa nhân văn cùng nghề trồng lúa nước đã và đang “nuôi sống” cả một dân tộc và tạo nên một nền văn hóa đặc sắc. Hơn thế, nghề trồng lúa và xuất khẩu gạo là một lợi thế của nước ta. Vì vậy, vấn đề đặt ra là nước ta không thể để nghề trồng lúa bị mai một, mà phải tìm cách làm cho nghề này phát triển theo hướng hiện đại, mang lại giá trị cao. Từ hạt gạo cần cù, thơm thảo của Lang Liêu ngày xưa, con cháu Vua Hùng ngày nay phải sáng tạo, đầu tư “chất xám” để làm ra hạt gạo thơm ngon hơn, bảo đảm các tiêu chí an toàn thực phẩm và sản xuất nhiều loại gạo phong phú, hợp khẩu vị của cả nhân loại. Đặc biệt, việc chế biến lúa gạo phải thực sự được quan tâm “nâng tầm” để tạo ra nhiều sản phẩm cao cấp, thực phẩm chức năng từ lúa gạo, xuất khẩu gạo thành phẩm có giá trị cao. Nếu làm được như thế, nhất định lúa gạo và các sản phẩm chế biến từ lúa gạo của Việt Nam sẽ chiếm lợi thế cạnh tranh trên các thị trường.


Muốn vậy, bên cạnh bảo tồn, phục hồi các giống lúa truyền thống chất lượng tốt, nhất thiết cần đầu tư nghiên cứu, lai tạo giống lúa mới có năng suất, chất lượng “đẳng cấp”. Các ngành, các cấp trong hệ thống Nhà nước cần phải thực sự quan tâm, sát cánh với người trồng lúa, thực hiện các chính sách hỗ trợ hữu hiệu về giống, vốn, kỹ thuật…, không để người nông dân phải một mình bươn chải trên cánh đồng. Và nữa, nghề trồng lúa cần được hiện đại hóa mạnh mẽ để sản xuất trên quy mô lớn, áp dụng khoa học công nghệ cao.

Để “nâng tầm” hạt gạo, bên cạnh những đức tính cần cù như chàng Lang Liêu xưa, nghề nông và cả ngành công thương rất cần những con người thông minh, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, nỗ lực phấn đấu hết mình để làm ra “hạt gạo thông minh”.

Trần Hoài (Báo Quân đội Nhân dân)



Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More