Chương trình theo dõi lúa ĐB sông Hồng

Ứng dụng công nghệ viễn thám đa thời gian trong công tác theo dõi lúa trên toàn vùng đồng bằng sông Hồng. Báo cáo hàng tháng được trình lên Bộ trưởng Bộ NN và PTNT.

Sử dụng tư liệu ảnh vệ tinh độ phân giải cao về thời gian

Tư liệu ảnh vệ tinh MODIS độ phân giải 250m chụp hàng ngày được thu nhận và xử lý tạo các tổ hợp 8 và 16 ngày phục vụ công tác nghiên cứu.

Nghiên cứu hạn hán hoặc ngập lụt

Bên cạnh công tác theo dõi lúa, chương trình cũng theo dõi các thảm họa thiên nhiên ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động sản xuất nông nghiệp như hạn hán, ngập lụt...

Theo dõi sâu bệnh

Theo dõi diện tích lúa bị sâu bệnh bằng phương pháp viễn thám, từ đó đưa ra mức độ cảnh báo về năng suất, chất lượng của mùa vụ.

Theo dõi quá trình xâm thực mặn

Phương pháp viễn thám được sử dụng trong công tác theo dõi xâm thực mặn từ biển gây ảnh hưởng đến quá trình canh tác sản xuất nông nghiệp và đời sống người dân...

Báo cáo kết quả trực tuyến

Các báo cáo được đăng tải hàng tháng trên trang web http://theodoilua.blogspot.com cùng bộ bản đồ trực tuyến xây dựng theo công nghệ WebGIS...

Thứ Ba, 30 tháng 1, 2018

Những dịch bệnh hại cần chú ý trong tuần (từ 30/1 – 5/2)

Cây lúa: Rầy, sâu đục thân 2 chấm, sâu cuốn lá nhỏ, bọ trĩ mật độ, tỷ lệ hại thấp; chuột, ốc bươu vàng phát sinh gây hại tăng, nặng cục bộ...

1. Các tỉnh phía Bắc

Cây lúa: Rầy, sâu đục thân 2 chấm, sâu cuốn lá nhỏ, bọ trĩ mật độ, tỷ lệ hại thấp; chuột, ốc bươu vàng phát sinh gây hại tăng, nặng cục bộ tại các vùng gần gò bãi, mương máng.

Rau màu: Bọ nhảy, sâu xanh… hại rau họ thập tự; bệnh héo xanh, héo vàng hại trên cà chua, khoai tây.

Cây mía: Bệnh chồi cỏ hại tại những ruộng chưa được tiêu hủy hoặc tiêu hủy chưa triệt để tại Nghệ An.

Cây hồ tiêu: Bệnh chết nhanh có xu hướng tăng.

Cây cà phê: Bệnh gỉ sắt, bệnh khô cành, rệp tiếp tục gây hại, mức độ tăng chậm.

2. Các tỉnh Nam Trung bộ và Tây Nguyên

Cây lúa: Rầy, bệnh đạo ôn hại nhẹ trên lúa ĐX giai đoạn đòng trỗ đến chín. Bọ trĩ, sâu cuốn lá nhỏ... hại trên lúa ĐX giai đoạn mạ đến đẻ nhánh. Bệnh bạc lá vi khuẩn hại cục bộ ở Khánh Hòa, Bình Thuận. Chuột: Hại nặng cục bộ trên lúa ĐX giai đoạn đẻ nhánh đến đòng trỗ. Ốc bươu vàng: Di chuyển và lây lan theo nguồn nước

Rau màu: Sâu tơ, sâu xanh... hại nhẹ  rau thập tự; bệnh xoăn lá cà chua tiếp tục gây hại; bệnh phấn trắng, mốc sương hại rau họ bầu bí; bệnh héo xanh, thán thư hại rau họ cà.

Cây cà phê: Rệp sáp, gỉ sắt... tiếp tục gây hại.

Cây hồ tiêu: Bệnh chết nhanh, chết chậm tiếp tục gây hại.

Cây mía: Sâu non bọ hung, bệnh trắng lá do Phytoplasma... gây hại cục bộ mía ở Gia Lai.

Bệnh khảm lá sắn có xu hướng tăng diện tích nhiễm.

Cây dừa: Bọ cánh cứng, bệnh đốm lá phát sinh gây hại.

Cây thanh long: Bệnh đốm nâu hại tăng.

3. Các tỉnh phía Nam

Cây lúa: Rầy nâu trên đồng phổ biến tuổi 4 đến trưởng thành, phải quản lý tốt nguồn rầy nâu tại chỗ nhằm hạn chế lan truyền bệnh VL, LXL do rầy nâu gây ra. Thời tiết có sương mù vào sáng sớm, đêm và sáng trời se lạnh là điều kiện thuận lợi cho bệnh đạo ôn phát triển trên lúa giai đoạn đẻ nhánh đến đòng trổ. Hiện sâu năn (muỗi hành) đang phát triển gây hại ngoài đồng ruộng (Đồng Tháp, Kiên Giang, Long An, Hậu Giang, Tiền Giang) cần theo dõi chặt chẽ để có biện pháp quản lý hiệu quả.

Cây nhãn: Bệnh chổi rồng tăng diện tích nhiễm.

Cây hồ tiêu: Tuyến trùng hại rễ, bệnh chết nhanh và chết chậm tăng diện tích nhiễm.

Cây điều: Diện tích nhiễm bọ xít muỗi và bệnh thán thư gia tăng. Cây cà phê: Bệnh khô cành giảm và rệp sáp tăng diện tích nhiễm.


Khuyến cáo

Trên lúa:

+ Để phòng trừ rầy nâu gây hại, sử dụng Applaud 25WP - Giải pháp trừ rầy nâu môi giới truyền bệnh VL-LXL (700g/ha), hoặc sử dụng Wellof 3GR (12-15kg/ha).

+ Đối với sâu cuốn lá nhỏ sử dụng Opulent 150SC (6ml/bình 16 lít, phun 2,5 – 3 bình/1.000m2) hoặc Wellof 330EC (0,8-1 lít/ha, pha 40-50ml/bình 16 lít nước).

+ Để trừ sâu đục thân sử dụng Nurelle D 25/2.5EC (1-1,5 lít/ha), phun sau khi bướm nở rộ 5-7 ngày.

+ Để phòng trừ đạo ôn, sử dụng BEAM 75WP – “Cắt ngay cháy lá” (250g/ha).

+ Sử dụng Bonny 4SL (0,75 lít/ha, 30ml/bình 16 lít  nước), lượng nước phun 400 lít/ha.

+ Sử dụng Aviso 350SC (0,35 lít/ha, 14ml thuốc/bình 16 lít nước) để phòng trừ bệnh lem lép hạt.

+ Phối hợp BEAM 75WP (250g/ha) + Bonny 4SL (500ml/ha) + Aviso 350SC (0,35 lít/ha) để phòng trừ bệnh đạo ôn, bạc lá do vi khuẩn và lem lép hạt cùng lúc tấn công cây lúa.

+ Sử dụng Pulsor 23DC (0,22-0,33 lít/ha), Catcat 250EC, Vali 5SL phun khi bệnh vết bệnh khô vằn (trên lúa, ngô) lúc mới xuất hiện.

+ Để kích thích cây lúa sinh trưởng và phát triển tốt, tránh nghẹn đòng khi trổ, dùng Dekamon 22.43L (6ml/bình 16 lít nước), phun lên lá, bông 10-15 ngày sau sạ, 40-45 ngày sau sạ và sau khi trổ đều.

Cây rau:

+ Sử dụng Foliar Blend (50ml/16 lít nước) để cung cấp dinh dưỡng vi lượng dễ hấp thụ cho cây trồng.

+ Sử dụng Gekko 20SC với hoạt chất Amisulbrom 200g/l, liều dùng 12-20ml/bình 16 lít nước để phòng trừ bệnh sương mai, giả sương mai trên dưa leo, cà chua.

Cây ngô (bắp): Sử dụng Maxer 660SC (1,25 - 2,5 lít/ha) trừ cỏ giai đoạn 7-20 ngày với ruộng ngô (bắp) biến đổi gen.

Cây tiêu:

+ Đối với bệnh chết nhanh, chết chậm trên tiêu, khuyến cáo phòng bệnh định kỳ. Kết hợp phun phủ trụ Manozeb 80WP (1kg/phuy 200 lít nước) + Bonny 4SL (250ml/phuy 200 lít nước), phun 4-6 lít nước/gốc và kết hợp rải Wellof 3GR (20-25g/gốc) trừ rệp sáp gốc và rễ.

+ Để trừ nấm Phytophthora (nguyên nhân gây ra bệnh chết nhanh cây tiêu) dùng Gekko 20SC – Chứa hoạt chất Amisulbrom (sử dụng 200ml thuốc/200 lít nước), tưới 4-6 lít/gốc để tiêu diệt mầm bệnh.

Cà phê: Phòng bệnh thán thư (khô cành, quả) sử dụng Manozeb 80WP (80g/bình 16 lít nước) kết hợp Aviso (20ml/bình 16 lít nước).

H.A.I

Theo Cục BVTV/ nongnghiep.vn


Thứ Tư, 24 tháng 1, 2018

Lạc quan thị trường xuất khẩu gạo

 Bước vào tháng đầu tiên của năm 2018, thị trường xuất khẩu gạo đã đón nhận những tín hiệu tích cực từ những thị trường nhập khẩu gạo truyền thống của Việt Nam. Những người trong cuộc cho rằng do điều kiện thời tiết bất lợi xuất hiện ở những quốc gia nên nhu cầu về gạo đang tăng lên. Trong khi đó ở trong nước đã xuất hiện tình trạng mua “lúa non” ngay trên đồng.


Tín hiệu xuất khẩu gạo tích cực ngay đầu năm khi nhu cầu thị trường khá lớn. Ảnh: Trung Chánh

Tín hiệu tốt, nhưng…

Sau khi Indonesia ban hành giấy phép nhập khẩu 500.000 tấn gạo, Hiệp hội lương thực Việt Nam (VFA) đã chính thức có thông báo, yêu cầu doanh nghiệp hội viên đăng ký số lượng, chủng loại cũng như mức giá có thể giao hàng để đơn vị này tổng hợp dự thầu.

Ông Phạm Thái Bình, Giám đốc Công ty cổ phần nông nghiệp công nghệ cao Trung An, cho biết thông báo nêu trên được VFA gửi đến các doanh nghiệp hội viên hôm 17-1-2018 và hạn chót của quá trình đăng ký được VFA chốt vào 9 giờ sáng ngày 18-1-2018.

Theo ông Bình, chủng loại gạo được VFA yêu cầu doanh nghiệp đăng ký là 5%, 15% và 25% tấm. Điều này đồng nghĩa phía Indonesia sẽ nhập khẩu chủng loại gạo ở phân khúc này. Thời gian giao hàng chậm nhất đến kho của Indonesia là ngày 28-2-2018. “Vì vậy, chỉ trong nay mai, Indonesia sẽ chính thức mở thầu”, ông Bình dự đoán.

Trong khi đó, theo thông báo từ phía Indonesia, nguồn gạo được quốc gia này đồng ý nhập khẩu đến từ Thái Lan và Việt Nam. Indonesia quyết định nhập khẩu gạo gấp rút nhằm làm dịu giá lương thực đang tăng cao ở quốc gia này. Việc nhập khẩu sẽ được điều phối bởi Cơ quan hậu cần nhà nước Indonesia (Bulog) và Công ty thương mại nhà nước Perusahaan Perdagangan Indonesia (PPI) làm nhà nhập khẩu.

Trước đó, Philippines, quốc gia nhập khẩu gạo truyền thống của Việt Nam, cũng tuyên bố sẽ sớm nhập 250.000 tấn gạo cho kho dự phòng của Cơ quan lương thực quốc gia Philippines (NFA). Nhưng thời gian và cách thức thực hiện hợp đồng vẫn phải đợi Ủy ban an ninh lương thực quốc gia thông qua. Trong khi đó, thông tin từ Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) dự báo trong năm 2018, Philippines sẽ nhập khẩu khoảng 1,3 triệu tấn gạo.

Sở dĩ nhu cầu nhập khẩu gạo từ Indonesia và Philippines được xem là yếu tố tích cực cho ngành hàng này của Việt Nam ngay từ đầu năm 2018 là bởi nhu cầu của Philippines thường xuất hiện trong mùa giáp hạt (từ tháng 7 đến tháng 9 hàng năm). Trong khi đó, Indonesia trong những năm gần đây đã hạn chế nhập khẩu gạo đến mức thấp nhất, thậm chí liên tục trong nhiều năm họ tuyên bố không nhập khẩu gạo. Vì vậy, quyết định mua 500.000 tấn ngay đầu năm là tin khá tích cực cho Việt Nam.

Tuy nhiên, đứng ở góc độ doanh nghiệp, ông Bình của Trung An cho rằng, hợp đồng 500.000 tấn của Indonesia chưa hẳn là hợp đồng tốt. Vì theo kinh nghiệm của ông, mức giá được phía Indonesia đưa ra thường rất thấp, trong khi thực tế ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), nơi cung cấp 90% lượng gạo xuất khẩu hàng năm, giá lúa gạo thị trường nội địa hiện đang tăng rất cao.

Cụ thể, bà Ngô Ngọc Yến, Giám đốc doanh nghiệp tư nhân Yến Ngọc, cho biết gạo nguyên liệu của giống IR 50404 tại thị trường chợ đầu mối lương thực Bà Đắc, Tiền Giang được giao dịch ở mức 7.900-8.000 đồng/kg, tăng 800-1.000 đồng/kg chỉ trong vòng 10 ngày nay; gạo thơm nguyên liệu dao động quanh mức 9.200-9.500 đồng/kg, cũng tăng 800-1.000 đồng/kg trong 10 ngày trở lại đây.

Đặt mua lúc lúa chưa trổ đòng

Tích hiệu tích cực như trên cộng với những thông tin dự báo nhu cầu nhập khẩu của thị trường Trung Quốc sẽ tăng mạnh, nhất là trong bối cảnh thời tiết bất lợi như diễn biến gần đây đã khiến giới kinh doanh lúa gạo sẵn sàng “vung tiền mua lúa non” trên đồng.

Ông Nguyễn Văn Được, một người chuyên môi giới, mua bán lúa ở Tiền Giang cho biết, hầu hết các diện tích lúa gieo sạ chỉ mới 30-40 ngày tuổi (lúa chưa trổ đòng) đều đã được thương lái đặt tiền cọc gom mua.

Ông Được cho biết, mọi năm cũng có hiện tượng mua “lúa non”, nhưng khi lúa đã trổ đòng. “Còn năm nay, sức mua mạnh hơn rất nhiều khi doanh nghiệp và giới đầu cơ kinh doanh gạo mua cả lúa mới 30-40 ngày tuổi, thậm chí lúa mới gieo sạ và diện tích bao nhiêu cũng gom hết”, ông Được nhấn mạnh.

Theo ông Được, nếu như mọi năm doanh nghiệp và giới đầu cơ kinh doanh gạo chỉ đồng ý đặt cọc 2 triệu đồng/ ha, thì năm nay tăng lên 3 triệu đồng/ha, thậm chí có nơi là 4-5 triệu đồng/ha. Mức giá giao dịch năm nay cũng cao hơn năm ngoái khá nhiều. “Chẳng hạn, lúa IR 50404 tươi năm ngoái là 4.500 đồng/kg, thì năm nay doanh nghiệp sẵn sàng mua với giá 5.000-5.100 đồng/kg”, ông cho biết.

Tuy nhiên, thông tin từ những người trong cuộc cho biết, mức giá 5.000- 5.100 đồng/kg đối với giống IR 50404 tươi cũng không phải là mức giá thực được giao dịch trên thị trường hiện nay. Bà Yến của doanh nghiệp Yến Ngọc cho biết, lúa IR 50404 tươi thực tế hiện được giao dịch quanh mức 5.300-5.400 đồng/kg, tức cao hơn mức giá được doanh nghiệp và giới đầu cơ kinh doanh gạo đặt cọc mua “lúa non” là 200-300 đồng/kg.

Một số hộ nông dân cho biết việc chấp nhận bán với giá thấp hơn giá thị trường hiện nay khoảng 200-300 đồng/kg cũng là một quyết định mang tính đánh cược với may rủi. Nghĩa là, nếu khi lúa thu hoạch mà giá tiếp tục tăng thì họ lỗ, còn giá sụt giảm thì họ lời vì doanh nghiệp cam kết khi thu hoạch, giá có tăng hay giảm họ cũng đồng ý mua với mức giá đã đặt tiền cọc.

Theo thesaigontimes.vn

Nhu cầu tăng đẩy giá lúa gạo tăng vọt

 Nguồn cung khan hiếm, trong khi nhu cầu thị trường tăng đã kéo giá lúa gạo nội địa sôi động thời gian gần đây, nhất là sau khi Việt Nam trúng thầu bán hơn 140.000 tấn gạo cho Indonesia.


Trong nông dân Đồng Tháp thu hoạch lúa vụ 3. Ảnh: Hoàng Kim

Bà Ngô Ngọc Yến, Giám đốc doanh nghiệp Yến Ngọc cho biết, gạo nguyên liệu của giống IR 50404 tại ĐBSCL hiện được giao dịch quanh mức 8.000-8.100 đồng/kg, tăng 1.000-1.100 đồng/kg chỉ trong nửa tháng trở lại đây. Tương tự, gạo nguyên liệu của các giống lúa thơm hiện được giao dịch quanh mức 9.300-9.600 đồng/kg, cũng tăng khoảng 1.000-1.100 đồng/kg trong vòng nửa tháng trở lại đây.

Trong khi đó, lúa IR 50404 tươi thu hoạch bằng máy gặt liên hợp hiện có giá 5.300-5.400 đồng/kg và các loại lúa thơm có giá dao động khoảng 6.100-6.300 đồng/kg, tăng khoảng 1.000 đồng/kg chỉ trong nửa tháng nay.

Lý giải nguyên nhân khiến thị trường lúa gạo nội địa sôi động, ông Lâm Anh Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH Thịnh Phát cho biết, hiện vụ lúa thu đông 2017 (lúa vụ 3) đã thu hoạch hết và vụ đông xuân 2017-2018 thu hoạch trễ, sau Tết Nguyên đán mới bắt đầu rộ. Trong khi đó, ngoài các hợp đồng cũ chuyển sang, việc có thêm hợp đồng mới, bán hơn 140.000 tấn gạo cho Indonesia nên kéo giá lúa gạo nội địa tăng cao.

“140.000 tấn của Indonesia phải đi gấp, cuối tháng 2-2018 có mặt bên kho Indonesia, nhưng nhà xuất khẩu quyết tâm phải đi trước tết cho xong nên việc thiếu nguồn cung càng nghiêm trọng hơn, đẩy giá lên nữa”, ông cho biết.

Ngoài ra, theo ông Tuấn, giá bán gạo tăng cao hơn so với nhiều thời điểm trước đó cũng giúp kéo giá lúa gạo nội địa tăng mạnh. “Ví dụ, trước đó giao dịch gạo 5% tấm dưới 400 đô la Mỹ/tấn, thì đợt này gạo 5% bán được tính ra hơn 450 đô la/tấn rồi (giá FOB)”, ông dẫn chứng.

Tuy nhiên, giá lúa gạo thị trường nội địa tăng khá cao như hiện nay, theo ông Tuấn, việc sử dụng gạo tồn kho để thực hiện hợp đồng còn có hiệu quả, chứ mua gạo mới để thực hiện sẽ lỗ. “So với giá nguyên liệu nội địa hiện nay, bán vẫn lỗ bình thường; chỉ những đơn vị còn tồn kho thì bán mới có lãi”, ông cho biết.

Trước tình hình giá lúa gạo như nêu trên, ông Phạm Thái Bình, Giám đốc Công ty cổ phần nông nghiệp công nghệ cao Trung An cũng lo lắng việc tham gia và thực hiện hợp đồng bán gạo cho Indonesia sẽ không hiệu quả.

Theo thesaigontimes.vn

Thứ Hai, 22 tháng 1, 2018

Hướng sản xuất lúa gạo bền vững

 Đề án tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng bền vững được triển khai thực hiện tại Đồng Tháp đã đem lại những kết quả khả quan, lợi nhuận trồng lúa tăng lên rõ rệt giúp nông dân ổn định cuộc sống và vươn lên khá giả.


Nông dân xã Vĩnh Thạnh (H.Lấp Vò, Đồng Tháp) chăm sóc lúa. Ảnh: An Lạc

Hiệu quả từ cách làm mới

Đồng Tháp là địa phương có thế mạnh về trồng lúa, sản lượng đứng thứ 3 cả nước nhưng thời gian qua đời sống nhiều hộ nông dân vẫn còn khó khăn do giá cả bấp bênh, sản xuất tự phát, nhỏ lẻ, thiếu liên kết… Trước thực trạng trên, năm 2014, tỉnh Đồng Tháp đã mạnh dạn thực hiện đề án tái cơ cấu nông nghiệp và lúa gạo là 1 trong 5 ngành hàng chủ lực được chọn để triển khai. Nhiều mô hình sản xuất mới được ngành nông nghiệp phối hợp cùng các nhà khoa học, các doanh nghiệp… hướng dẫn nông dân thực hiện.

Hợp tác đẩy mạnh sản xuất bền vững lúa gạo Điển hình như GS-TS Võ Tòng Xuân hướng dẫn nông dân H.Tháp Mười áp dụng mô hình canh tác lúa giảm giá thành sản xuất khoảng 600 đồng/kg mỗi vụ so với cách làm cũ; hỗ trợ nông dân Võ Văn Tiếng ở H.Hồng Ngự mở rộng quy mô sản xuất lúa theo hướng hữu cơ từ 1,2 ha năm 2016 lên 60 ha năm 2017; thực hiện mô hình sản xuất lúa chất lượng cao gắn với liên kết tiêu thụ trên diện tích hơn 300 ha ở hợp tác xã nông nghiệp Mỹ Đông 2 (H.Tháp Mười); phát triển sản xuất lúa liên kết ở hợp tác xã Tân Cường (H.Tam Nông) mang lại hiệu quả cho nông dân với giá bán cao hơn 200 đồng/kg so bên ngoài…

Ông Nguyễn Văn Na, Chủ tịch UBND H.Tam Nông, cho biết để nông dân vươn lên từ cây lúa, huyện đã tổ chức nhiều cuộc gặp gỡ trao đổi, khuyến khích bà con thay đổi tập quán canh tác. Qua đó, mô hình “cánh đồng lớn” được xác định là hướng đi triển vọng, bởi thuận lợi trong việc đầu tư hạ tầng, đê bao, sản xuất đồng loạt để giảm chi phí giá thành, thuận lợi trong việc đầu tư khoa học kỹ thuật… Đến cuối năm 2017, toàn huyện có gần 50.000 ha lúa sản xuất theo cánh đồng lớn, chiếm khoảng 70% diện tích. Kết quả cho thấy nông dân làm theo cánh đồng lớn chi phí sản xuất giảm 150 đồng/kg lúa, lợi nhuận tăng thêm gần 1 triệu đồng/ha; tính ra hằng năm nông dân trong huyện tăng thêm được hơn 47 tỉ đồng từ cánh đồng lớn mang lại.

Theo ông Nguyễn Thanh Hùng, Phó chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp, nhờ triển khai nhiều giải pháp đồng bộ nên mặt hàng lúa gạo đã đem lại những kết quả tích cực. Thống kê mới đây cho thấy năm 2017, bình quân lợi nhuận vụ đông xuân đạt hơn 13 triệu đồng/ha (tăng 1,9 triệu đồng/ha); lợi nhuận vụ hè thu đạt 9 triệu đồng/ha (tăng 340.000 đồng/ha); lợi nhuận vụ thu đông gần 11 triệu đồng/ha (tăng 2,3 triệu đồng/ha) so với năm 2016.

Phát huy mô hình liên kết

Nhóm công tác PPP và sứ mệnh nâng tầm gạo Việt Theo Sở NN-PTNT Đồng Tháp, trong hơn 3 năm qua, tỉnh thu hút hơn 166 doanh nghiệp tham gia chương trình liên kết sản xuất và tiêu thụ lúa gạo, trên diện tích cánh đồng lớn 111.443 ha, sản lượng lúa tiêu thụ qua hợp đồng đạt hơn 562.373 tấn. Song song đó, tỉnh đã hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng vùng nguyên liệu và xây dựng các thương hiệu gạo, như: gạo Nosavina, gạo Kim Trường Xuân, gạo Sếu Đỏ, gạo Hương Tràm, gạo Ramsa… Ngoài ra, tỉnh cũng tăng cường củng cố và phát triển các hợp tác xã nông nghiệp nhằm đưa nông dân trồng lúa vào làm ăn liên kết. Đến nay, đã có 128 hợp tác xã nông nghiệp hoạt động theo mô hình “doanh nghiệp - hợp tác xã - nông dân”...

Mới đây, trong chuyến công tác ở Đồng Tháp, Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Nguyễn Xuân Cường đánh giá cao khi Đồng Tháp phát huy tốt vai trò đầu tàu của doanh nghiệp và đẩy mạnh hình thành các hợp tác xã, tổ hợp tác để huy động người dân vào làm ăn hợp tác, từ đó xây dựng được chuỗi giá trị hàng nông sản, nhất là lúa gạo được gia tăng lợi nhuận đáng kể.

Tới đây, Đồng Tháp sẽ tiếp tục đa dạng hóa trong sản xuất nông nghiệp, nhằm tăng thu nhập cho nông dân, hướng tới sản xuất lúa gạo bền vững.

Theo Báo Thanh Niên

Thứ Hai, 15 tháng 1, 2018

Indonesia sẽ là động lực cho giá gạo tăng trong những ngày tới

Có những thông tin trái chiều xoay quanh thị trường lúa gạo Indonesia, nhưng động thái cần nhập khẩu gạo gấp để hạ nhiệt thị trường nội địa cho thấy nước này đang thiếu hụt gạo trầm trọng.



Bộ Thương mại Indonesia ngày 11/1/2018 cho biết sẽ nhập khẩu gạo trở lại để tăng lượng dự trữ, trong bối cảnh giá lương thực thiết yếu này tăng cao trong những tuần gần đây.

Chỉ một ngày sau đó, ngày 12/1, Vụ trưởng Vụ Ngoại thương nước này, ông Oke Nurwan cho biết, Indonesia đã cấp phép nhập khẩu 500.000 tấn gạo trong năm 2018 với lý do "Giá gạo trung bình tăng vượt mức trần, và thiếu gạo dự trữ".

Đợt nhập đầu tiên trong khối lượng này dự kiến sẽ tiến hành vào cuối tháng 1. Chính phủ Indonesia chỉ định công ty PT Perusahaan Perdagangan Indonesia tiến hành nhập khẩu theo giấy phép này.

Bộ trưởng Thương mại Enggartiasto Lukita cho biết: "Cần phải nhập khẩu nhưng sẽ chỉ nhập loại chất lượng cao để không ảnh hưởng tới nông dân cũng như ngành sản xuất lúa gạo của chúng tôi". Và dự kiến gạo sẽ nhập là loại 0 đến 5% tấm, hoặc chất lượng cao hơn, mua của Việt Nam và Thái Lan.

Trước đây, trong khi Indonesia liên tục phát đi những thông tin rằng sản lượng gạo trong nước tăng, dự trữ đã đủ và không nhập khẩu nữa, thì Phó Tổng thống Jusuf  Kalla đã từng yêu cầu Cơ quan Hậu cần Quốc gia (Bulog) xem xét nhập khẩu gạo để hạ nhiệt thị trường trong nước. Ông này đã nói rằng: "Việc nhập khẩu gạo không bị cấm, nhưng chúng tôi phải nghiên cứu xem có cần nhập hay không, trong bối cảnh giá tăng không ngừng".

Tuy nhiên chỉ đến lúc này, khi giá tăng rất mạnh, Indonesia mới quyết định nhập khẩu.

Theo Trung tâm Thông tin Giá lương thực Chiến lược Quốc gia (PIHPSN), giá gạo chất lượng trung bình trên thị trường Indonesia đã lên tới 14.100 Rupiah (99 US cent)/kg, cao hơn nhiều so với mức giá sàn quy định là 9.450 Rupiah. Giá cao nhất là ở West Papua (14.250 Rp/kg), giá thấp nhất là ở West Nusa Tanggara (9.740 Rp/kg), nhưng vẫn cao hơn mức trần.

Bộ trưởng Thương mại Indonesia, Anggartiasto Lukita, đã quy kết cho các thương gia tội găm giữ gạo dự trữ khiến giá tăng trên thị trường này.

Chính phủ Indonesia vẫn đang theo dõi để can thiệp vào thị trường khi thấy cần thiết. Chủ tịch Cơ quan Hậu cần quốc gia (Bulog) cho biết đã chuẩn bị 950.000 tấn gạo để đưa vào thị trường trong năm 2018.

Chính phủ Indonesia đã tiến hành mở rộng hệ thống phân phối gạo để đảm bảo cung cấp tới nhiều khu vực, nhiều đối tượng hơn nhằm hạ nhiệt thị trường này.  Tuy nhiên, trên thực tế hoạt động phân phối gạo ra thị trường đã được thực hiện từ tháng 11/2017 tới nay nhưng giá gạo ở Indonesia vẫn cao do nguồn cung không đủ đáp ứng nhu cầu.

Động thái này diễn ra không lâu sau khi mới đây Bộ Nông nghiệp Indonesia tuyên bố nước này không cần nhập khẩu gạo nữa vì lượng dự trữ lên tới 3 triệu tấn tính tới tháng 12/2017, dư sức đáp ứng nhu cầu 2,6 triệu tấn.

Vụ trưởng Vụ Phát triển Nguồn nhân lực nông nghiệp, Gunung Kidul District, đã khẳng định: "Chúng tôi không cần nhập khẩu gạo, và như các bạn thấy, từ tháng 12 đến tháng 1, nhiều khu vực trên đất nước Indonesia sẽ thu hoạch lúa".

Ông này cho biết Indonesia sẽ dư thừa 0,4 triệu tấn gạo, có thể sẽ được đưa vào kho dự trữ; đồng thời Chính phủ đang khuyến khích tăng diện tích đất trồng lúa vào mùa khô (tháng 7 – tháng 9).  Chính phủ sẽ hỗ trợ nông dân trong việc cải thiện hệ thống tưới tiêu, theo đó Bộ Nông nghiệp đã phát triển hệ thống kênh mương tưới nước cho hơn 24 nghìn ha đất trồng lúa (dự kiến cho 4,3 triệu tấn lúa), đồng thời trợ cấp lúa giống để trồng trên 12,1 triệu ha, 27,64 triệu tấn phân bón, và bảo hiểm nông nghiệp cho 1,2 triệu ha đất trồng lúa.

Tuy nhiên, Trang Thejakartapost ngày 11/1 vừa qua lại đưa tin, số liệu từ Bulog cho thấy dự trữ gạo hiện chỉ đạt 950.000 tấn, phần lớn là gạo chất lượng thấp để dùng trong trường hợp trợ cấp cho các gia đình có thu nhập thấp. Hãng Antara cũng đưa tin rằng dự trữ gạo thương mại hiện chỉ còn 11.000 tấn.

Những số liệu này đáng tin cậy hơn bởi mấy năm gần đây Indonesia rất hạn chế nhập khẩu gạo mới mục tiêu giảm sự phụ thuộc vào loại lương thực này.

Theo Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), để giảm phụ thuộc vào gạo và ngô nhập khẩu, Indonesia đã tăng mạnh nhập khẩu lúa mì lên vị trí nước nhập khẩu lớn thứ 2 thế giới, không chỉ để làm lương thực mà còn dùng trong chăn nuôi.

Việc giá lúa mì giảm trong khi giá ngô cao cũng là nguyên nhân khiến Indonesia tăng nhập khẩu lúa mì. Indonesia phát đi thông báo rằng cung gạo của họ đã gần đủ đáp ứng nhu cầu, và tiêu thụ gạo liên tiếp sụt giảm trong khi tiêu thụ lúa mì tăng lên vì người dân ngày càng sử dụng nhiều các thực phẩm làm từ bột mì. Nhưng sau đó do nhập khẩu lúa mì tăng mạnh quá, Chính phủ nước này lại ra những chính sách hạn chế nhập khẩu lúa mì chăn nuôi để tăng cường và mở rộng sản xuất ngô trong nước. Để giải quyết những vấn đề của thị trường thức ăn chăn nuôi do hạn chế nhập lúa mì, Indonesia đã cho nhập khẩu lúa mì chất lượng kém để pha trộn với các thành phần thức ăn chăn nuôi khác.

Giới chuyên gia nhận đinh, chừng nào Indonesia vẫn còn theo đuổi mục tiêu tự cung tự cấp ngũ cốc thì thị trường ngũ cốc nước này sẽ còn biến động mạnh.


Theo Trí Thức Trẻ

Thứ Sáu, 12 tháng 1, 2018

Indonesia có kế hoạch nhập khẩu gạo của Việt Nam

Ngày 12/1, Bộ trưởng Bộ Thương mại Indonesia Enggartiasto Lukita cho biết Chính phủ Indonesia sẽ nhập khẩu 500.000 tấn gạo bổ sung vào nguồn cung nội địa để kiềm chế giá gạo tăng tại thị trường trong nước.


Bốc xếp gạo xuất khẩu tại Công ty cổ phần lương thực Hậu Giang. Ảnh: Duy Khương/TTXVN

Theo phóng viên TTXVN tại Jakarta, số gạo nói trên dự kiến sẽ được nhập từ Việt Nam và Thái Lan và là loại gạo chất lượng cao để không làm ảnh hưởng tới nông dân và tình hình sản xuất lúa gạo trong nước, vốn sản xuất loại gạo bình thường.

Hiện dự trữ gạo của Indonesia ở mức 950.000 tấn, nhưng phần lớn là gạo chất lượng thấp (dùng để trợ cấp cho người nghèo), trong khi đó lượng gạo dự trữ cho mục đích thương mại chỉ là 11.000 tấn.

Bộ trưởng Lukita cho biết thêm việc nhập khẩu gạo sẽ được tiến hành từ cuối tháng 1 này cho đến khi thu hoạch mùa vụ tới vào khoảng tháng 2 và tháng 3. Chính phủ Indonesia có kế hoạch bán số gạo nói trên với mức giá trung bình mà không tính đến giá nhập khẩu.

Trước đó, Phó Tổng thống Jusuf Kalla cũng đã từng yêu cầu Cơ quan Hậu cần quốc gia Indonesia BULOG cân nhắc việc nhập khẩu gạo để giảm giá gạo trong nước. Theo Trung tâm Thông tin giá lương thực chiến lược quốc gia Indonesia (PIHPSN), hiện nay giá gạo trung bình tại nước này đang ở mức 14.100 rupiah/kg (tương đương 1 USD/kg).

Mức giá giữa các vùng khác nhau ở Indonesia có chênh lệch, Tây Papua (Pa-pua) có giá gạo cao nhất với 14.250 rupiah/kg và giá gạo thấp nhất là ở Tây Nusa Tanggara với mức hơn 9.700 rupiah/kg.

Theo TTXVN/Báo Tin tức

Thứ Hai, 8 tháng 1, 2018

Đầu năm bàn chuyện “cởi trói” cho xuất khẩu gạo

Hồi đầu năm 2017 trong quyền hạn của mình, Bộ trưởng Công Thương Trần Tuấn Anh đã ký quyết định bãi bỏ quy định tối đa 150 đầu mối xuất khẩu gạo trong cả nước do chính bộ này ban hành vào năm 2013, vốn bị nhiều chuyên gia và doanh nghiệp phàn nàn là rào cản cho các thương nhân muốn tham gia xuất khẩu gạo mấy năm qua.


Thương nhân trông chờ Chính phủ "cởi trói" cho xuất khẩu gạo nhiều năm nay. Ảnh: TC.

Nay, bộ này tiến xa hơn khi trình Chính phủ dự thảo Nghị định sửa đổi Nghị định 109/2010/NĐ-CP ngày 4-11-2010 về kinh doanh xuất khẩu gạo, với nhiều điểm thay đổi theo hướng tạo thuận lợi, thông thoáng, giảm tối đa chi phí gia nhập thị trường của thương nhân.

Chính sách hạn chế đầu mối xuất khẩu gạo đã có từ cuối những năm 2000 khi xuất khẩu gạo tăng trưởng nóng về lượng, từ 3-4 triệu tấn gạo tăng dần lên 6-7 triệu tấn mỗi năm. Kéo theo sau là hàng trăm thương nhân kinh doanh xuất khẩu gạo, tới mức có thương nhân kinh doanh hàng điện máy thấy “bán gạo ngon ăn” cũng nhào vào mua gom xuất khẩu. Tình trạng cạnh tranh diễn ra, dẫn tới giá lúa gạo trong nước bất ổn, suy cho cung là thiệt hại chung cho nền kinh tế và người nông dân trồng lúa.

Vào tháng 8-2013, Bộ Công Thương phê duyệt quy hoạch thương nhân kinh doanh xuất khẩu gạo căn cứ theo Nghị định 109/2010/NĐ-CP. Quy hoạch này đã khống chế tối đa cả nước có 150 đầu mối xuất khẩu gạo đến năm 2015, cùng với tiêu chí về kho chứa, cơ sở xay xát lúa gạo, thành tích xuất khẩu gạo… để được cấp chứng nhận đủ điều kiện xuất khẩu gạo.

Chính sách trên thuần túy hành chính, không phù hợp với tự do cạnh tranh và hội nhập quốc tế, nhưng việc khống chế số đầu mối xuất khẩu gạo lúc ấy ít ra cũng lập lại trật tự nhất định trong xuất khẩu gạo. Tuy nhiên, khi xuất khẩu gạo mấy năm nay đã đi vào chiều sâu, thị trường tiêu dùng gạo thế giới đòi hỏi gạo chất lượng cao, gạo có thương hiệu, nhãn mác thì chính sách này đã không còn phù hợp.

Nhiều thương nhân chuyên kinh doanh thương mại, mặc dù có khách hàng, có thị trường nhưng không có năng lực tài chính, vốn hoặc đất đai và nguồn nhân lực cần thiết để đầu tư vận hành kho chứa, cơ sở xay xát thóc gạo, do đó, đã không đáp ứng đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận. Rõ ràng, những quy định như thế này này đã trở thành rào cản đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ khi tham gia thị trường.

Trong giới kinh doanh gạo, ai cũng biết muốn xây dựng thương hiệu gạo là cả một quá trình, từ sản xuất tới thương mại, tiếp thị và phải bắt đầu từ vài tấn, vài lô hàng, vài container hay vài chục tấn gạo chứ không thể ngay một lúc xuất khẩu gạo có tên tuổi hàng chục ngàn tấn.

Xuất khẩu gạo phẩm cấp thấp và gạo thơm không có thương hiệu của Việt Nam ngày càng khó, tìm thị trường ngách bán vài ngàn tấn gạo không dễ. Hơn ai hết, chính Bộ Công Thương cũng thừa nhận, cái thời bán gạo phẩm cấp thấp, không thương hiệu với khối lượng lớn sang các thị trường tập trung nhờ đàm phán cấp Chính phủ, nhờ Hiệp hội Lương thực Việt Nam đấu thầu đã không còn, việc “cởi trói” cho các doanh nghiệp nhỏ, bán gạo bằng thương hiệu, nhãn mác là chuyện buộc phải làm.

Theo thesaigontimes.vn

Kỳ vọng lên đời từ lúa sạch

Trong năm 2017, giá lúa gạo và số lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam ổn định ở mức cao. Đây là “gam sáng” đáng ghi nhận trong bối cảnh xuất khẩu gạo chịu nhiều áp lực cạnh tranh trên thương trường. Gạo Việt đang từng bước “mày mò” tạo dựng thương hiệu bằng sản phẩm sạch, hữu cơ…


Sản xuất lúa sạch, lúa hữu cơ là hướng đi triển vọng và bền vững

Học người xưa trồng lúa sạch

Những ngày đầu năm 2018, anh Võ Văn Tiếng, nông dân xã Thường Thới Tiền, huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp, cần mẫn đi thăm đồng. Đây là năm thứ 2 anh trồng lúa hữu cơ. Với 40ha đất trồng lúa, hơn 2 năm nay, Võ Văn Tiếng đã bỏ lúa vụ 3, thay bằng nuôi vịt. Cứ 10ha đất trồng lúa, anh đào 1 ao rộng khoảng 5.000m², sâu 3m để chứa nước lũ và thả cá.

Mùa lũ, anh đón nước vào ruộng để lấy phù sa; mùa khô, lượng nước sạch, giàu dinh dưỡng trong ao được bơm vào ruộng. Đất được nghỉ và làm giàu nhờ đón lượng phù sa từ sông trong mùa lũ, từ ao trong mùa khô. 40ha lúa của anh Tiếng gần như không tốn chi phí cho phân bón hay thuốc bảo vệ thực vật.

“Mình nghĩ, quê mình là quê lúa của cả nước, người dân trồng lúa thì nhiều nhưng mà vẫn nghèo, vì sản phẩm tạo ra không có chất lượng. Lượng hóa học quá nhiều nên sản phẩm có thể không an toàn. Hệ lụy có thể gây mất cân bằng sinh thái môi trường. Mình thấy ông bà xưa làm lúa không có phân, thuốc; mặc dù năng suất không cao, nhưng bù lại chất lượng tốt. Mình học hỏi làm theo…”, anh Tiếng tâm sự về lựa chọn sản xuất lúa hữu cơ.   

Trồng lúa không thuốc trừ sâu, không phân hóa học, chàng thanh niên 9X mang dáng rặt ri nông dân Võ Văn Tiếng đã trồng lúa theo cách ông cha để giữ nguyên giá trị và chất lượng hạt gạo. Đó là việc tận dụng thiên địch để trừ sâu.

Cánh đồng của Tiếng trở thành nơi chim trời, cá tôm, côn trùng hội tụ và “chung sống” hòa thuận với cây lúa. Thuận theo tự nhiên là phương châm mà Tiếng lựa chọn để sản xuất nông nghiệp sạch, nông nghiệp bền vững với môi trường. Tiếng học từ phương pháp canh tác xưa của nông dân quê mình - mỗi năm chỉ trồng 2 vụ.

Dù năng suất chỉ khoảng 4-5 tấn/ha, tức chỉ hơn 50% so với canh tác thông thường, nhưng bù lại giá bán cao gấp đôi so với các sản phẩm cùng loại trên thị trường và lúc nào nguồn cung cũng không đủ cầu. Từ đó, tạo nên thương hiệu gạo hữu cơ nông dân Võ Văn Tiếng.

Thay đổi tư duy

“Trước đây chúng ta lấy sản lượng để quyết định sự tăng trưởng và cứ nghĩ rằng, sản lượng càng nhiều thì nông nghiệp phát triển càng cao, thu nhập của nông dân càng cao, nhưng đến thời điểm này, cách nghĩ đó không còn đúng. Tiêu chuẩn sạch trở thành một xu thế không thể đảo ngược. Tôi muốn nói lại lần nữa, chúng ta đang chuyển dần tư duy chạy theo sản lượng sang chất lượng. Bởi chính đảm bảo chất lượng chúng ta mới tạo được niềm tin của người tiêu dùng và tiến tới xây dựng được thương hiệu hạt gạo cho ĐBSCL”, ông Lê Minh Hoan, Bí thư Tỉnh ủy Đồng Tháp, nhận định.

Cuối năm 2017, giá lúa gạo ở vựa lúa ĐBSCL tiếp tục ở mức cao. Hiện giá lúa khô tại kho loại thường dao động 6.000 đồng/kg, lúa dài khoảng 6.300 - 6.400 đồng/kg, tăng khoảng 700 đồng/kg so với hồi đầu tháng 10-2017. Có thể nói, việc thay đổi cấu trúc xuất khẩu gạo theo hướng tăng ở thị trường Trung Quốc (chiếm khoảng 40%) đã kích thích giá lúa ở ĐBSCL tốt hơn và duy trì mức giá cao trong năm 2017. Xuất khẩu gạo năm 2017 vượt mức 5,3 triệu tấn, tăng khoảng 400.000 tấn so với năm 2016.

GS-TS Võ Tòng Xuân, Hiệu trưởng Trường Đại học Nam Cần Thơ, cho biết: Gạo ST24 của Việt Nam đã được vinh danh (cùng với gạo Thái Lan và gạo Campuchia) trong “Tốp 3 gạo ngon nhất thế giới” tại Hội nghị quốc tế lần 9 về thương mại gạo tổ chức tại Macau - Trung Quốc (tháng 11-2017).

Được biết, gạo ST24 do nhóm nghiên cứu gồm kỹ sư Hồ Quang Cua (Sở NN-PTNT tỉnh Sóc Trăng) dẫn đầu, cùng TS Trần Tấn Phương và kỹ sư Nguyễn Thị Thu Hương. Gạo ST24 được chọn bởi hội đồng giám khảo quốc tế gồm những đầu bếp nổi tiếng bình chọn là gạo đạt chuẩn hạt dài, trắng trong, cơm dẻo vừa và có hương thơm mùi lá dứa.

Đặc điểm gạo thơm ST24 của Việt Nam nổi bật là ngắn ngày (100-105 ngày) so gạo Thái rất dài ngày (khoảng 150 ngày). Đây là dấu son đánh dấu bước tiến của các loại gạo thơm ST do kỹ sư Hồ Quang Cua dày công nghiên cứu lai tạo trong hơn 20 năm qua.

Tại Hậu Giang, bước đầu một số hợp tác xã cũng đã trồng lúa sạch. Cầu nối giữa doanh nghiệp và nông dân làm nông sản sạch không ai khác là chính quyền địa phương. Vì lẽ đó, Hậu Giang đã và đang triển khai nhiều chính sách hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp hữu cơ thông qua tín dụng ưu đãi, tiền thuê đất... Đặc biệt, tỉnh đang triển khai thực hiện đề án nâng cao chất lượng hoạt động của các hợp tác xã, tổ hợp tác. Tạo nền tảng cho mối liên kết giữa nông dân với doanh nghiệp, góp phần hình thành vùng nguyên liệu sản xuất lúa sạch.

“Muốn có gạo sạch, người dân trước hết phải liên kết sản xuất. Mô hình này muốn thành công phải liên kết từ cấp thấp, tức là nông dân phải liên kết từ tổ hợp tác, hợp tác xã. Trên cơ sở liên kết, ngành hữu quan cũng như ngành nông nghiệp sẽ có trách nhiệm tìm đầu ra. Phải xây dựng theo mô hình cánh đồng lớn, rồi kêu gọi các doanh nghiệp đầu tư, cũng như tìm đầu ra cho nông dân. Phải đồng bộ từ các nhà khoa học, đầu tư hạ tầng cũng như là chuyển giao khoa học kỹ thuật”, ông Nguyễn Văn Đồng, Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Hậu Giang, cho biết.

Có thể nói, trong áp lực cạnh tranh, sản xuất lúa gạo Việt Nam đã có bước thay đổi đáng ghi nhận khi hướng tới các giống lúa thơm, chất lượng cao, gắn với an toàn thực phẩm. Xây dựng nền nông nghiệp hữu cơ cho ĐBSCL còn là một hành trình dài với nhiều nỗi gian truân. Những mô hình canh tác thành công, dù nhỏ như anh nông dân Võ Văn Tiếng, cũng đang gieo niềm hy vọng cho sự hình thành một nền nông nghiệp hữu cơ trong tương lai. Hành trình ấy phải được thực hiện bằng tất cả nỗ lực, kiên trì, đầy tâm huyết của những người trong cuộc.

Theo Báo SGGP

Thứ Tư, 3 tháng 1, 2018

Lúa sạch Bến Tre ngày một đắt hàng

Không chỉ cư dân trong tỉnh mà doanh nghiệp, du khách, người dân ở Hà Nội, TPHCM, Cần Thơ, Tiền Giang... cũng tìm đến huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre để mua lúa, gạo sạch. Để có được lúa, gạo sạch, những người nông dân miệt... biển này đã chuyển đổi tập quán canh tác sang hòa hợp với thiên nhiên: sống chung với mặn!


Thu hoạch lúa sạch tại Bến Tre. Ảnh: Lư Thế Nhã

Mười năm trước đây, nhiều người dân ở các xã An Điền, An Nhơn, Mỹ An, An Thạnh, An Quy, An Thuận... thuộc huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre bỏ quê đi làm thuê ở Đồng Tháp, Cà Mau, Cần Thơ, Sóc Trăng... vì vùng quê này nghèo quá, do người dân ở đây chỉ biết làm nông với các giống lúa mùa có thời gian sinh trưởng đến sáu tháng. Năm nào gió chướng mạnh, nước mặn lên sớm là lúa mất trắng, người dân nghèo càng nghèo thêm.

Những năm gần đây nhà nông ở các xã trên đã biết sống chung với mặn - sáu tháng bị nước mặn họ tổ chức nuôi tôm sú và cua biển, sáu tháng nước ngọt thì trồng lúa kết hợp nuôi cá. Với tổng diện tích trên 7.000 héc ta, việc canh tác lúa - tôm khởi đầu ở ấp An Hòa, xã An Nhơn và nơi này được xem là nôi của vùng lúa sạch.

Cách sống chung với mặn khác biệt với các nơi khác ở chỗ ruộng lúa có bờ bao và cống giữ nước ra, vào. Tháng 11 âm lịch nước mặn thì thả nuôi tôm sú, cua biển. Từ tháng 5 đến tháng 7 âm lịch thì sạ lúa. Người dân ở đây tận dụng nước mặn, ngọt canh tác quanh năm.

Tôm, cua biển ở đây được nuôi quảng canh, ăn gốc gạ, phiêu sinh vật trong nước mà lớn nên cũng là tôm, cua sạch.

Lúa canh tác được khuyến cáo là các giống lúa xác nhận như OM 4900, OM 6162 và lúa Đài thơm 8 của Trung tâm Giống cây trồng miền Nam có thời gian sinh trưởng từ 95-100 ngày. Nền đất không cày xới. Chăm bón cho lúa, nông dân sử dụng phân hữu cơ sinh học hoặc một ít phân hóa học, sản lượng từ 25-27 giạ/1.000 mét vuông.

Năm nay, đa số nông dân trúng mùa. Cá biệt có ông Huỳnh Văn Thành ở ấp An Định, xã An Nhơn đạt 32 giạ/1.000 mét vuông.

Chân ruộng sản xuất lúa sạch được giữ nước đến chân lúa để nuôi cá phi, cá chẽm, cá nâu, cá kiền, cá bóng cát, tôm càng xanh... nên người nông dân ở đây tuyệt đối không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật. Lúa ở đây sản xuất theo quy chuẩn VietGap. Khi phát hiện ruộng lúa có sâu rầy, họ mở cống cho nước vào ngập ngọn lúa, sâu rầy chết làm mồi cho cá; khi triều xuống, họ mở cống cho sâu rầy còn lại theo dòng nước trôi ra ngoài. Chi phí tính ra ít hơn so với làm ruộng dùng phân, thuốc hóa học. Từ nuôi trồng gần gũi với thiên nhiên, thiên địch sinh sôi nảy nở nên sâu rầy cũng ít đến phá hại đồng lúa này.

Con tôm, con cá, lúa sạch của vùng đất này được người tiêu dùng ưa chuộng. Hạt gạo sạch của An Nhơn dài, trắng ngà. Đời sống người nông dân ở miền biển này trở nên khá hơn. Nhiều nông dân bỏ đi làm ăn xa nay đã trở về đồng ruộng của mình.

Ông Hồ Văn Cương, Phó chủ tịch Hội Nông dân xã An Nhơn, cho biết: Ba năm trước đây tỷ lệ hộ nghèo ở xã An Nhơn là 30%, nay chỉ còn 6%, nhiều nhà tường thay nhà lá, cuộc sống đang đổi thay từng ngày với cách canh tác mới, hòa hợp với thiên nhiên.

Chuyển sang sản xuất tôm, lúa sạch, những người nông dân ở đây đã gắn kết với nhau, trao đổi kinh nghiệm, kỹ thuật nuôi trồng, thông báo dịch hại trên đồng, giá cả sản phẩm trên thị trường... Ông Trương Thanh Hải, Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Thạnh Phú, cho biết: Các địa phương trồng lúa sạch đã hình thành 29 tổ hợp tác tôm lúa, lúa sạch. Ngày 21-9-2016, các tổ hợp tác được Cục Sở hữu trí tuệ công nhận nhãn hiệu tập thể lúa sạch.

Không dừng ở mô hình tổ hợp tác, tháng 3-2017, các địa phương trồng lúa sạch đã thành lập Hợp tác xã lúa, tôm Thạnh Phú. Đây là hợp tác xã kiểu mới, bước đầu có 82 xã viên, đưa 171 héc ta đất vào hợp tác. Sau chín tháng hoạt động, đã có thêm 15 người xin vào hợp tác xã, diện tích đất canh tác tăng lên thành 218 héc ta. Các thành viên hợp tác xã đều có giấy chứng nhận sản xuất lúa sạch VietGap.

Tới đây hợp tác xã này sẽ xây kho chứa phân, kho chứa lúa, nhà máy xay xát, kết nạp thêm xã viên vì nhiều nông dân trồng lúa sạch đang có nguyện vọng vào hợp tác xã. Khi hợp tác xã hoạt động có lãi, sẽ chia cho xã viên theo dịch vụ: người bán nhiều lúa cho hợp tác xã được chia nhiều; mua phân nhiều được chia nhiều. Hợp tác xã sẽ ứng phân bón trước cho nông dân, thu hoạch mới trả tiền.

Hiện tại, hợp tác xã đang làm trung gian mua lúa sạch của xã viên. Hợp tác xã chỉ hợp đồng với đơn vị mua giá cao là Công ty Lương thực Tiền Giang và Công ty Lương thực Bến Tre, giá mua trong năm 2017 đối với lúa OM là 7.300 đồng/ki lô gam và lúa Đài thơm 8 là 7.600 đồng/ki lô gam. Trong khi đó, nông dân bán cho thương lái bên ngoài thì bị ép giá, chỉ bán được 5000 - 5.500 đồng/ki lô gam. Các doanh nghiệp mua lúa sạch với giá cao nhưng vẫn có lãi vì gạo sạch bán trên thị trường hiện tại có giá tới 25.000 đồng/ki lô gam, cao gấp hai lần gạo ngon thường.

Ông Lâm Anh Tú, đại diện Công ty Phân bón hữu cơ Lio Thái, cho biết: Công ty đầu tư 100% phân bón cho các xã An Quy, An Nhơn và An Thạnh, đồng thời hướng dẫn kỹ thuật chăm bón nên chất lượng hạt gạo cao. Công ty mua 100 tấn lúa cung cấp ra thị trường, không đầy một tuần là hết sạch.

Lúa sạch Thạnh Phú được người tiêu dùng ưa chuộng, hiện không đủ cung ứng cho thị trường, ông Trịnh Văn Lạng, Chủ tịch Hội đồng quản trị hợp tác xã lúa, tôm Thạnh Phú, cho biết.

Theo thesaigontimes.vn

Thứ Sáu, 29 tháng 12, 2017

Bao giờ gạo Việt sánh ngang với gạo Campuchia, Thái Lan?

Xét về lượng, Việt Nam là cường quốc xuất khẩu gạo, nhưng về chất và giá bán lại không thể sánh với Campuchia, Thái Lan.


Ảnh minh họa

"Việt Nam cần sớm thay đổi cách trồng lúa để tăng lượng gạo chất lượng lên để cạnh tranh với gạo Thái, gạo Campuchia", câu nói của ông Bruce J. Tolentino, Phó tổng giám đốc Viện Nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI), làm tôi nhớ mãi trong chuyến thăm IRRI tại Philippines vừa qua.

Trong nhiều năm Philippines là nước nhập khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam vì nước này thiếu lương thực.

Nhưng ông Bruce J. Tolentino cho hay ba bốn năm trở lại đây Philippines đã giảm lượng gạo nhập khẩu không chỉ của Việt Nam mà còn từ các quốc gia khác.

Xu hướng tự túc lương thực không chỉ đang xảy ra ở Philippines mà còn ở các thị trường nhập khẩu gạo lớn của Việt Nam trước đây như Indonesia.

Do vậy, Việt Nam cần thay đổi cách trồng lúa để tăng giá trị hạt gạo. Đây là điều mà nhiều người đã nói đến.

Nhưng để cạnh tranh với gạo Thái Lan đã đành, lại được "nhắc" để cạnh tranh với Campuchia thì quả thực khiến nhiều người chạnh lòng.

Xét về các yếu tố sản xuất lúa gạo hàng hóa, Campuchia không bằng Việt Nam. Thế nhưng trong 5 năm trở lại đây, Campuchia lại nổi lên như một thị trường cung cấp gạo cao cấp cho thế giới.

Đó là vì hệ thống canh tác lúa ít cơ giới hóa, trồng giống lúa mùa kéo dài tới 6 tháng, ít sử dụng phân, thuốc hóa học... của họ.

Nhưng nó lại đang phù hợp xu hướng tiêu dùng của thế giới. Cái được coi là lạc hậu của Campuchia lại trở thành lợi thế khi thế giới thay đổi thói quen tiêu dùng.

Nhiều năm liền, Campuchia đem gạo đi thi và được giải cao nhất nhì thế giới trong khi Việt Nam vẫn chạy theo sản lượng.

Khi thị trường thay đổi, gạo Campuchia được đánh giá cao hơn gạo của Việt Nam và theo đó là giá bán cao hơn. Việt Nam không cần phải sang Campuchia học cách trồng lúa, nhưng rõ ràng việc giảm hóa chất trong nông nghiệp là xu hướng tất yếu.

Ngay tại thị trường trong nước, ở một số kênh phân phối, không chỉ giống lúa ngoại như Đài Loan, gạo Nhật trồng tại Việt Nam nữa mà các loại gạo từ Campuchia, Pakistan... ngày càng xuất hiện nhiều hơn trong bữa cơm của nhiều gia đình Việt.

Thời gian gần đây lãnh đạo ngành nông nghiệp hay nhắc đến nâng cao chất lượng và giá trị hạt gạo Việt Nam nhưng quả thực còn thiếu nhiều hành động cụ thể. Không thể sản xuất được hạt gạo chất lượng cao khi mà tình trạng buôn bán và sử dụng hóa chất vẫn khá tràn lan và khó kiểm soát.

Việt Nam đang đứng trước hai thách thức: phải tăng chất lượng gạo đồng thời thích ứng với biến đổi khí hậu. Nhưng đó cũng là cơ hội để chuyển đổi sang các mô hình trồng lúa thân thiện với môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu.

Tiến sĩ Nguyễn Đăng Nghĩa, giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và tư vấn nông nghiệp nhiệt đới, cho biết người tiêu dùng ngày càng lo sợ hóa chất trong thực phẩm nên họ chấp nhận bỏ nhiều tiền hơn cho gạo Thái, gạo Campuchia vì họ cho rằng an toàn hơn.

Ông Nghĩa cho rằng nếu không thay đổi sản xuất theo nhu cầu của người tiêu dùng, nguy cơ thua trên sân nhà của gạo Việt là có thật.

Bao giờ nhà nông Việt mới trở lại trồng lúa mùa? Hiểu theo nghĩa là trở lại với phương thức canh tác truyền thống, bớt hóa chất, không đòi hỏi năng suất cao...

Ông Bruce J. Tolentino cho rằng Philippines sẽ tiếp tục giảm nhập khẩu gạo. Đó là thành quả của nghiên cứu và phát triển mà Philippines đã đầu tư trong nhiều năm qua.

"Việt Nam cũng cần phải tăng cường nghiên cứu phát triển trong nông nghiệp. Tôi có cảm giác Việt Nam đầu tư chưa xứng đáng vào lĩnh vực này...", ông Bruce nói.


Theo Báo Tuổi Trẻ

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More