Chương trình theo dõi lúa ĐB sông Hồng

Ứng dụng công nghệ viễn thám đa thời gian trong công tác theo dõi lúa trên toàn vùng đồng bằng sông Hồng. Báo cáo hàng tháng được trình lên Bộ trưởng Bộ NN và PTNT.

Sử dụng tư liệu ảnh vệ tinh độ phân giải cao về thời gian

Tư liệu ảnh vệ tinh MODIS độ phân giải 250m chụp hàng ngày được thu nhận và xử lý tạo các tổ hợp 8 và 16 ngày phục vụ công tác nghiên cứu.

Nghiên cứu hạn hán hoặc ngập lụt

Bên cạnh công tác theo dõi lúa, chương trình cũng theo dõi các thảm họa thiên nhiên ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động sản xuất nông nghiệp như hạn hán, ngập lụt...

Theo dõi sâu bệnh

Theo dõi diện tích lúa bị sâu bệnh bằng phương pháp viễn thám, từ đó đưa ra mức độ cảnh báo về năng suất, chất lượng của mùa vụ.

Theo dõi quá trình xâm thực mặn

Phương pháp viễn thám được sử dụng trong công tác theo dõi xâm thực mặn từ biển gây ảnh hưởng đến quá trình canh tác sản xuất nông nghiệp và đời sống người dân...

Báo cáo kết quả trực tuyến

Các báo cáo được đăng tải hàng tháng trên trang web http://theodoilua.blogspot.com cùng bộ bản đồ trực tuyến xây dựng theo công nghệ WebGIS...

Thứ Năm, ngày 30 tháng 6 năm 2016

Giá lúa tăng, doanh nghiệp “ngóng” hợp đồng


Sau hơn một tháng rơi vào vòng xoáy giảm sâu, giá lúa gạo ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đang có xu hướng tăng nhẹ. 

 Tuy nhiên, nhu cầu nhập khẩu gạo trên thị trường thế giới chưa có nhiều nên các doanh nghiệp chủ yếu chỉ mua cầm chừng để nhập kho dự trữ, còn hoạt động xuất khẩu dường như vẫn đang “án binh bất động”.

 * Giá lúa gạo có xu hướng tăng nhẹ 

Trong vài ngày gần đây, giá lúa gạo ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đang có xu hướng tăng nhẹ từ 100-300 đồng/kg tùy từng loại.

 Cụ thể, giá lúa tươi IR50404 tại ruộng đã tăng lên khoảng 4.300-4.400 đồng/kg, thay vì có thời điểm giảm sâu chỉ còn 3.900-4.000 đồng/kg. Giá lúa hạt dài OM 4900, OM 6976 cũng tăng tương tự, hiện ở mức 4.600-4.800 đồng/kg.

 Tại một số địa phương đã thu hoạch xong vụ lúa Hè Thu, giá gạo bán tại các chợ cũng đã bắt đầu nhích lên thêm từ 100-150 đồng/kg.

 Giá lúa tăng do thương lái thu mua nhiều. 

 Một số thương lái cho biết, giá gạo nguyên liệu loại 1 làm ra gạo 5% tấm hiện có mức giá dao động khoảng 6.600 – 6.700 đồng/kg, gạo nguyên liệu làm ra gạo 25% tấm là 6.300 – 6.400 đồng/kg.

 Giá gạo thành phẩm 5% tấm không bao bì tại mạn hiện khoảng 7.500 – 7.600 đồng/kg, gạo 15% tấm 7.300 – 7.400 đồng/kg và gạo 25% tấm khoảng 7.200 – 7.300 đồng/kg.

 Theo anh Huỳnh Văn Sơn, nông dân trồng lúa ở huyện Thạnh Hóa, Long An, giá lúa gạo vài ngày gần đây có xu hướng tăng nhẹ là do thương lái “ăn mạnh”, thu mua nhiều hơn.

 Bên cạnh đó, chất lượng gạo cũng đã được cải thiện, tỷ lệ hạt gạo bị đen, vụn vỡ thấp hơn so với thời điểm đầu vụ nên các thương lái, doanh nghiệp tăng cường mua vào nhiều hơn để dự trữ.

 Nói thêm về thời điểm giá lúa gạo giảm sâu, ông Lâm Anh Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH Thịnh Phát (Bến Tre) cho rằng, ngoài chất lượng lúa đầu vụ Hè Thu khá thấp thì việc giá lúa “rớt” cũng mang cả yếu tố tâm lý. Các thương lái, doanh nghiệp khi nghe thông tin Thái Lan xả hàng nên lo sợ, không dám “ôm” hàng.

 Do đó, khi hết chu kỳ gạo kém chất lượng cộng thêm nguồn cung cấp của vụ Hè Thu không ồ ạt như vụ Đông Xuân và nhu cầu thị trường tăng dần có thì giá lúa gạo bắt đầu phục hồi là hợp lý, phù hợp với quy luật bình thường.

 Mặc dù giá lúa gạo trong nước đang có xu hướng tăng, tuy nhiên, theo các doanh nghiệp trong ngành, tình hình xuất khẩu gạo hiện vẫn khá im ắng, chưa có nhiều nhu cầu nhập khẩu mới từ các thị trường.

 * Doanh nghiệp “chờ” hợp đồng 

Theo ông Lâm Anh Tuấn, đến thời điểm này, chưa có doanh nghiệp nào bán được hợp đồng lớn, kể cả hợp đồng thương mại. Bản thân doanh nghiệp hiện cũng đang ngừng thu mua, do đã đầy kho và chưa bán ra được.

Thời điểm này nhu cầu của thị trường cũng chưa có nên khi muốn bán cũng không thể bán được. Cũng ý kiến trên, ông Nguyễn Văn Đôn, Giám đốc Cty TNHH Việt Hưng (Tiền Giang) cho biết, trong tháng 6 là thời điểm tệ nhất của doanh nghiệp do không có bất kỳ hợp đồng mới nào được ký kết. Các doanh nghiệp chủ yếu đang mua vào để dự trữ chờ cơ hội. Phía Trung Quốc hiện chưa mua vào, còn Philippines , Indonesia thì không có hợp đồng tập trung.

 “Giá gạo xuất khẩu chào bán của các doanh nghiệp hiện ở mức thấp nhất so với các nguồn cung như Thái Lan, Ấn Độ, Pakistan… nhưng do không có nhu cầu nên doanh nghiệp cũng không bán được hàng.

 Nhiều doanh nghiệp cũng đang ngừng thu mua.

Không chỉ có các doanh nghiệp Việt Nam mà doanh nghiệp các nước khác cũng trong tình trạng nằm ngóng cơ hội. Muốn có hợp đồng mới, doanh nghiệp phải chờ sang tháng 8, thậm chí có khi phải qua tháng 9, khi đó nhu cầu từ thị trường mới rõ rệt”. - ông Đôn cho biết.

 Ông Huỳnh Thế Năng, Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) cho hay, qua cân đối tình hình sản xuất vụ lúa Hè Thu và Thu Đông trong năm nay, lượng gạo hàng hóa cần tiêu thụ 6 tháng cuối năm nay chỉ khoảng 3,9 triệu tấn.

 Trong khi đó, triển vọng thị trường còn nhiều, đặc biệt là nhu cầu nhập khẩu gạo từ các thị trường chính như Trung Quốc , Philippines và Indonesia tiếp tục ổn định. Do đó, việc tiêu thụ gạo sẽ không có gì đáng lo ngại và giá lúa gạo trong nước và xuất khẩu cũng sẽ tiếp tục tăng trong thời gian tới.

 Nhiều doanh nghiệp cũng dự báo, trong 6 tháng cuối năm, nhu cầu nhập khẩu gạo trên thị trường thế giới sẽ quay trở lại, cụ thể là ở các thị trường truyền thống như Trung Quốc, Philippine, Indonesia, Malaysia... Bởi hiện tượng El-Nino đã ảnh hưởng đến vấn đề an ninh lương thực của nhiều nước.

 Hàng năm, các nước này đều nhập khẩu gạo với số lượng lớn. Tuy nhiên, năm nay họ chưa mua là do đã có kế hoạch dự phòng mua trước từ cuối năm 2015. Một số nước như Philippines mới ra mắt lãnh đạo nên cần thời gian để ổn định.

 Khi đó, Việt Nam sẽ có lợi thế nhiều hơn, do giá bán cạnh tranh và nguồn cung cấp tốt, trong khi một số đối thủ như Thái Lan vừa có giá bán cao, gạo mới lại chưa vào vụ thu hoạch.

 VFA dự kiến trong năm 2016 cả nước sẽ xuất khẩu khoảng 5,7 triệu tấn gạo, tương đương với xuất khẩu gạo của năm 2015. Hiện nay nhiều diện tích lúa Hè Thu ở các địa phương đã được thu hoạch xong.

 Theo số liệu của Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), tính đến ngày 23/6, các tỉnh, thành phố vùng Đồng bằng sông Cửu Long xuống giống được 1,53 triệu ha vụ Hè Thu và hiện đã thu hoạch khoảng 450.000 ha với năng suất 5,5 - 5,8 tấn/ha./.

Nguồn: Theo H.Chung/TTXVN



Nông dân lo lắng vì giá lúa gạo sụt giảm, doanh nghiệp ép giá


Báo cáo mới đây của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, tại các tỉnh ĐBSCL, giá lúa diễn biến giảm trong 20 ngày đầu tháng 6/2016 do thời tiết mưa nhiều khiến lúa thu hoạch có độ ẩm cao, chất lượng gạo xấu, mặc dù sản lượng lúa sụt giảm mạnh do hạn hán.

Bên cạnh đó, nhu cầu tiêu thụ từ các khách hàng truyền thống như Trung Quốc, Phi-lip-pin hay In-đô-nê-xia chưa hồi phục cũng là nguyên nhân làm giảm giá lúa.

 Nông dân ĐBCSL đang lo lắng vì giá lúa sụt giảm, trong khi doanh nghiệp cố tình ép giá hoặc không mua lúa của nông dân.

 Tại Tiền Giang, lúa tươi loại thường giảm xuống còn 4.200 - 4.300 đ/kg; lúa chất lượng cao giảm còn dưới 5.000 đ/kg. Cá biệt, đối với những thửa ruộng lúa bị sập thương lái không thu mua, nông dân phải đem phơi sấy dự trữ lại.

 Nông dân lo lắng vì giá lúa gạo sụt giảm, doanh nghiệp ép giá. 

Thực tế, nhiều người dân tại ĐBSCL cho biết, nhiều ngày qua, các doanh nghiệp khi đến thu mua lúa gạo thường đưa ra mức giá rất thấp, nếu người dân không đồng ý thì doanh nghiệp sẽ không thu mua.

 Theo hệ thống cung cấp giá tại địa phương, diễn biến giá lúa tại một số tỉnh ĐBSCL trong 20 ngày đầu tháng 6/2016 cụ thể như sau: tại An Giang, lúa IR50404 tươi giảm từ 4.700 đ/kg xuống còn 4.400 đ/kg; lúa chất lượng cao OM 2514, OM 1490 giảm từ 4.800 đ/kg xuống còn 4.700 đ/kg.

 Tại Vĩnh Long, lúa tươi IR50404 giảm từ 4.200 đ/kg xuống còn 4.000 đ/kg. Tại Kiên Giang, lúa tẻ thường giảm 300 đ/kg, từ 5.900 đ/kg xuống còn 5.600 đ/kg; lúa dài ổn định ở mức 6.300 đ/kg. Tại Bạc Liêu, giá lúa thu mua của Công ty Lương thực không thay đổi so với tuần trước, lúa OM 5451 ở mức 5.900 đ/kg, lúa OM 4900 ở mức 6.000 đ/kg (lúa khô).

 Tính trong 6 tháng đầu năm nay, giá lúa tại các tỉnh ĐBSCL diễn biến giảm mạnh, với mức giảm từ 400 - 800 đ/kg.

 Cụ thể, lúa IR50404 tại An Giang giảm từ 4.800 đ/kg xuống còn 4.400 đ/kg; lúa IR 50404 tại Vĩnh Long giảm từ 4.800 đ/kg xuống còn 4.000 đ/kg. Các loại lúa chất lượng cao như OM 2514, OM 1490 giảm nhẹ, từ khoảng 5.000 đ/kg xuống còn 4.700 – 4.800 đ/kg.

Nguồn: Theo doanhnghiepvn.vn



Thứ Ba, ngày 28 tháng 6 năm 2016

Gặt lúa thuê bằng máy

Không nản chí sau những lần thua lỗ, anh Trần Quốc Quân tiếp tục chăn nuôi, từ heo đến gà - cá kết hợp và tích lũy vốn mua máy gặt đập liên hợp, làm dịch vụ gặt lúa thuê ở khắp mọi miền đất nước.


Anh Quân bên các máy gặt đập liên hợp. Ảnh: Lê Minh

Không nản chí sau những lần nuôi tôm, nuôi heo bị thua lỗ, anh Trần Quốc Quân (42 tuổi) ở xã Phước Sơn, H.Tuy Phước (Bình Định) vẫn tiếp tục chăn nuôi, từ heo đến gà - cá kết hợp và tích lũy vốn mua máy gặt đập liên hợp, làm dịch vụ gặt lúa thuê ở khắp mọi miền đất nước.

Anh Quân kể: 9 năm trước, anh mạnh dạn xin địa phương thuê một ao hoang giữa đồng rộng 1.300 m2, bỏ ra hơn 100 triệu đồng đầu tư, đổ trụ bê tông cất trại nuôi gà trên mặt nước, dưới thả cá nuôi. Đây là gia trại chăn nuôi thứ 2 của anh, sau thành công của gia trại cũ với dãy chuồng heo rộng 220 m2, mỗi năm nuôi 4 lứa, mỗi lứa 130 con heo thịt, cùng 30 con heo sinh sản, và dãy chuồng nuôi gà thịt 1.000 con/lứa. Để tránh ô nhiễm môi trường do phân gia súc, gia cầm thải ra, anh xây dựng hầm khí biogas đưa vào sử dụng đầu tiên ở địa phương.

Cứ thế, anh tích lũy lợi nhuận, tái đầu tư, lại vay mượn ngân hàng, mở rộng quy mô chăn nuôi cho đến khi trả hết nợ. Kết dư được vài trăm triệu đồng, Quân suy nghĩ, tìm tòi để chọn ra cơ hội đầu tư mới có thu nhập cao hơn.

Tháng 4.2011, ở Phước Sơn quê anh diễn ra hội thi máy gặt đập liên hợp các tỉnh phía nam, do Bộ NN-PTNT phối hợp với UBND tỉnh Bình Định tổ chức, chứng kiến các máy thu hoạch lúa hoạt động hiệu quả trên đồng ruộng, Quân lân la tìm hiểu, hỏi thăm các doanh nghiệp về tính năng kỹ thuật, giá cả, thị trường, rồi nhẩm tính thời gian thu hồi vốn, cứ như thể anh có sẵn phương án trong đầu. Năm 2012, anh quyết định mua máy về làm dịch vụ.

Phát triển mạnh mẽ

Thời điểm đó ở Bình Định chưa có bán máy gặt đập liên hợp nhãn hiệu Kubota (Nhật Bản), anh phải vào tận một đại lý ở tỉnh Bình Dương, ở lại nửa tháng trời xem máy và học cách vận hành, rồi quyết định mua 1 máy gặt đập liên hợp hết 515 triệu đồng, thuê xe tải chở về. Được nhà phân phối hướng dẫn, chỉ sau ít hôm anh Quân đã thực nghiệm gặt thành thạo trên đồng ruộng và vụ gặt đầu tiên, máy gặt đập liên hợp của anh hoạt động hiệu quả ngay trên quê hương mình. Hết vụ, trừ chi phí, anh còn dư hơn 200 triệu đồng. Nhận thấy đây là dịch vụ tiềm năng, Quân vay mượn tiền mua thêm 2 máy gặt đập liên hợp nữa. Kể từ đó cho đến năm 2014, anh rong ruổi khắp trong nam ngoài bắc, lên Tây nguyên gặt thuê. Năm 2015, anh tiếp tục vay vốn để mua thêm 2 máy nữa và mua xe tải để vận chuyển 5 máy gặt đập liên hợp đi làm xa. “Tiền vay đến hết năm 2017 mới đến hạn. Nhưng nói thiệt, ngay bây giờ cũng dư tiền để trả cho ngân hàng. Nhưng tôi còn tính toán xem có thể đầu tư gì nữa”, Quân cởi mở.

Quân tự tin kể về công việc của mình: “Bây giờ tôi có đội ngũ chuyên nghiệp 16 người vận hành máy gặt đập liên hợp, gồm thợ lái và công nhân đứng máy hứng lúa, đều là thanh niên trai tráng cả. Tôi bao ăn và trả công mỗi tháng 9 triệu đồng/thợ lái, 6 triệu đồng/công nhân hứng lúa. Để máy hoạt động liên tục, ở mỗi tỉnh tôi đều có “vệ tinh”; đồng ruộng nơi nào lúa chín là họ “a lô”, lập tức tôi điều máy đến gặt chừng 1 tuần đến nửa tháng là xong, lại đi tỉnh khác”. Vậy nên, cả năm đội quân làm dịch vụ của anh Quân chỉ nghỉ được non 1 tháng, từ nửa cuối tháng chạp vắt qua nửa đầu tháng giêng, còn lại dẫn máy đi “ăn đồng” suốt.

Vì liên tục đi lại điều hành máy và tìm kiếm hợp đồng gặt thuê nên 3 năm nay, Quân tạm nghỉ nuôi heo, chỉ duy trì trại nuôi 2.000 con gà ta đẻ trứng và 1.000 con gà ta thịt/4 lứa/năm cùng ao cá, do vợ anh ở nhà quản lý. Công việc này cũng mang lại cho gia đình anh mức lợi nhuận mỗi năm hơn 100 triệu đồng. Không giấu nghề, thời điểm nuôi gà, anh Quân còn trực tiếp giúp đỡ, hướng dẫn nhiều hộ trong thôn phương pháp nuôi gà thịt, gà đẻ trứng và họ đều thành công, có thu nhập khá. Đến nay, có hơn 50 hộ trong thôn Mỹ Trung, xã Phước Sơn theo nghề nuôi gà và đều ăn nên làm ra.

Lê Minh (Báo Thanh Niên)


Nghệ An: Ốc bươu vàng phá hoại lúa hè thu ở Nam Đàn với mật độ 100 con/m2

Toàn huyện Nam Đàn có gần 600 ha được gieo trồng lúa hè thu. Tuy nhiên, do nắng nóng kéo dài nên ngoài việc làm mọi cách để cứu hạn thì bà con nông dân đang khổ sở đối phó với nạn ốc bươu vàng hại lúa.


Bà con ở xã Nam Anh ra đồng bắt diệt ốc bươu vàng hại lúa

Tình trạng ốc bươu vàng tàn phá lúa xảy ra hầu như trên khắp các cánh đồng toàn huyện Nam Đàn nhưng tập trung chủ yếu ở các cánh đồng vùng trũng, thấp như xã Nam Xuân, Nam Anh, Xuân Hòa và Nam Giang.

Ghi nhận tại cánh đồng xã Nam Xuân, tình trạng này xảy ra nặng nhất ở các tuyến đồng của các xóm 3, 8, 9, 11 và 12. Do các tuyến đồng này trũng, thấp, sau thu hoạch vụ lúa đông xuân, ốc bươu vàng thường trú ngụ và sinh sản dưới các kênh rạch, mương máng có nước nên mật độ ốc bươu vàng hiện nay rất nhiều, có nơi lên tới 100 con/ m2.


Nhiều tuyến đồng ở xã Nam Xuân, mật độ ốc bươu vàng lên tới 100 con/m2

Ông Nguyễn Mạnh Tam, hộ dân ở xóm 11, xã Nam Xuân đang khẩn trương bắt ốc bươu vàng trên thửa ruộng của mình cho biết: Nhà tôi có làm 3 sào lúa mà năm nay ốc bươu vàng nhiều lắm, vợ chồng tôi cứ sáng sớm và chiều là phải xuống ruộng bắt ốc không nó ăn hết lúa! Ở đây (xóm 11, xã Nam Xuân) có nhiều người làm nhiều ruộng, ốc bắt không xuể nên phải phun thuốc phòng trừ.”

Theo ghi nhận của PV, hiện đang dùng thuốc hóa học có tên VT-DAX (700WP), Boxer (15GR) để phun, Tru oc (700WP) diệt ốc bươu vàng.


Ốc bươu vàng gom bên vệ đường ở đồng lúa xã Xuân Hòa

Ông Nguyễn Hữu Thuận, Trưởng ban nông nghiệp xã Nam Xuân cho biết: Toàn xã Nam Xuân hiện có 300 ha đã gieo trồng lúa hè thu (chủ yếu là gieo thẳng). Ban nông nghiệp xã cũng đã đi kiểm tra các tuyến đồng cho thấy, tình trạng ốc bươu vàng phá lúa tập trung chủ yếu ở các vùng trũng và thấp hơn. Theo đó, chúng tôi khuyến khích bà con nên diệt ốc bươu vàng theo phương pháp thủ công bắt bằng tay và đập chết hoặc đốt, không nên lạm dụng việc phun thuốc hóa học vì nếu không đảm bảo được các yêu cầu trong thời gian cách ly và sẽ ảnh hưởng tới sức khỏe người dân”.

Còn bà con nông dân xã Xuân Hòa cũng đang khẩn trương ra đồng bắt diệt ốc, bảo vệ trên 350 ha đồng mạ và lúa mới cấy.

Chị Nguyễn Thị Hoa, xóm 5, xã Xuân Hòa (Nam Đàn) cho biết: Năm nay, gia đình chị làm 6 sào đất lúa nhưng đã bị ốc bươu vàng tàn phá gần hết. Do cây mạ còn non nên ốc thường cắn ngang gốc cây lúa làm lúa chết. Dù mấy năm trước có xuất hiện ốc bươu vàng trên đồng lúa nhưng mật độ không nhiều và phổ biến như năm nay.”

Bà Trương Thị Thành, Trưởng ban Nông nghiệp xã Xuân Hòa cho biết: Hiện nay, trên toàn diện tích mạ non và lúa mới cấy của 11 xóm đều xảy ra tình trạng bị ốc bươu vàng tàn phá. Người dân cũng đã dùng mọi biện pháp để khắc phục và cứu lúa. Đồng thời, Ban nông nghiệp xã đã chỉ đạo Ban chỉ huy các xóm thông báo trên hệ thống truyền thanh về khuyến cáo sử dụng thuốc bảo vệ thực vật để bà con sử dụng phun phòng trừ kịp thời.”

Ông Nguyễn Hữu Thắng, Phó trưởng Phòng NN và PTNN huyện Nam Đàn cho biết: “Chúng tôi cũng đã nắm được thông tin về tình trạng ốc bươu vàng tàn phá lúa ở một số xã. Hầu như đầu các vụ mùa, sau khi bà con gieo mạ và cấp nước dưỡng cho lúa thì đều xuất hiện ốc vàng. Ngài việc chỉ đạo các địa phương khuyến cáo bà con đối phó với tình trạng này qua 2 phương pháp: bắt và đốt hoặc phun thuốc, đồng thời tham mưu lên cấp trên để tìm biện pháp khắc phục hiệu quả hơn.”

Tuy nhiên, do thời gian qua thời tiết nắng nóng đã làm nứt nẻ đất ruộng, điều này tạo thuận lợi cho ốc bươu vàng trú ngụ, sinh sản dưới các đường chân chim nên lượng ốc hiện nay trên các tuyến đồng rất nhiều. Ngoài ra, do nước đang dần về trên các tuyến đồng nên tạo điều kiện thuận lợi cho ốc phát triển hơn, đặc biệt là vào ban đêm và sáng sớm.

Theo Baonghean.vn

Nuôi cá trên ruộng lúa đạt 130 triệu đồng/ha

Vụ hè thu năm 2016, bà con nông dân thị trấn Đô Lương đã đẩy mạnh chuyển đổi hơn một nửa diện tích đất trồng lúa sang nuôi cá, thu 130 triệu đồng/ha.


Những ruộng lúa được cải tạo để nuôi cá ở Đô Lương

Trong những ngày này, khác với nhiều bà con nông dân trên địa bàn huyện đang bận rộn với việc gieo trỉa trên ruộng lúa, những hộ nuôi cá ruộng ở thị Trấn – Đô Lương lại khá nhàn rỗi. Bởi cá đã được thả xong. Việc đầu tư nuôi cá trên ruộng xuyên suốt đến tận tháng 12 âm lịch là một bước đột phá của bà con nông dân. Tuy nhiên, số tiền đầu tư ban đầu quả là không nhỏ.

Anh Nguyễn Nhật Hải, một hộ dân đầu tư mô hình này cho biết: “Tôi thuê máy về cải tạo ao đầm, hết 14 triệu đồng, thả cá cũng hết gần chục triệu nữa nhưng thu hoạch một vụ cũng được trên 50 triệu đồng”.

Theo những hộ nông dân ở đây cho biết, nuôi cá trên ruộng lúa có lợi thế hơn rất nhiều so với việc trồng lúa hay nuôi cá trong ao. Bởi từ khi bắt đầu nuôi cho đến 4 – 5 tháng đầu không phải cho cá ăn, mà cá sẽ tận dụng các nguồn thức ăn từ phụ phẩm trên ruộng lúa của vụ Đông Xuân.

Nói về lợi ích của nuôi cá trên ruộng lúa so với trồng lúa chị Trần Thị Hiền – một chủ hộ nuôi cá tâm sự: “Diện tích nuôi cá của gia đình chúng tôi 7 mẫu, cá sẽ tận dụng nguồn thức ăn trên đồng rộng. Theo chúng tôi nuôi cá khoẻ hơn làm lúa rất nhiều, không phải đầu tư phân bón, mà lợi nhụận lại cao gấp 3-4 lần trồng lúa".

Hiện nay, diện tích nuôi cá trên ruộng lúa của bà con nông dân thị trấn- Đô Lương đạt 44,7ha/ tổng số 75,7 ha diện tích đất nông nghiệp của thị trấn Đô Lương. Việc thả cá của bà con trong thời gian 7 tháng. Trên diện tích 1 ha, bà con đã đầu tư 20 kg giống chủ yếu là trắm và gáy chiếm 80%, số còn lại là trôi, mè.

Số hộ nuôi cá năm nay tăng lên 40 hộ. Một số hộ mạnh dạn nuôi với diện tích vài ha, thập chí là cả 10 ha, điển hình như anh Nguyễn Văn Hà ở khối 5.

Để bà con nông dân được nuôi cá trên ruộng với diện tích lớn là việc làm không dễ, trước đó cấp ủy Chính quyền Thị Trấn Đô Lương đã cho nuôi thí điểm trước khi mở rộng diện tích.

Trong quá trình nuôi cá 7 tháng trên ruộng lúa, chỉ có 2 đến 3 tháng cuối là phải tăng cường bổ sung nguồn thức ăn cho cá. Do vậy việc nuôi cá trên ruộng lúa sẽ giảm rất nhiều chi phí cho bà con nông dân.

Theo ước tính sản lượng cá nuôi 1 ha sẽ đạt 2 đến 2,2 tấn thu về từ 90-100 triệu đồng, cộng với sản lượng một vụ lúa xuân gần 35 triệu đồng. Như vậy 1 ha nuôi cá xen lúa sẽ đạt xấp xỉ 130 triệu đồng.

Tuy nhiên hình thức nuôi cá lúa chủ yếu vẫn dựa vào kinh nghiệm truyền thống, năng suất chưa cao. Bên cạnh đó, cần quan tâm đầu tư cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hệ thống thủy lợi cho vùng nuôi cá.

Mặt khác, để các hộ dân yên tâm đầu tư sản xuất các ban ngành cần hướng dẫn về kỹ thuật, cách tiếp cận thị trường, đầu tư về giống, vốn giúp bà con nông dân thực hiện mô hình nuôi cá xen lúa đạt hiệu quả cao.

Theo Lê Ngọc Phương (Báo Nghệ An)

Tạo lập chiến lược cho ngành lúa gạo


Bộ KHCN vừa công bố bản đồ công nghệ, lộ trình chọn tạo giống lúa, sản xuất lúa gạo tại Việt Nam. Bản đồ cho thấy vị trí ứng dụng công nghệ của ngành sản xuất lúa gạo Việt Nam đang ở đâu và triển vọng để thương hiệu gạo Việt có chỗ đứng trên thị trường thế giới.

Nhập khẩu 35 triệu USD giống lúa lai mỗi năm 

 TS Tạ Việt Dũng – Cục trưởng Cục Ứng dụng và Phát triển công nghệ (Bộ KHCN) cho biết, việc xây dựng bản đồ công nghệ nhằm xác định được tình trạng công nghệ của Việt Nam gắn liền với thị trường lúa gạo. Bản đồ chỉ ra Việt Nam đang sở hữu công nghệ nào, năng lực ra sao, khả năng phát triển như thế nào.


Việt Nam có nhiều loại gạo ngon nhưng gạo xuất khẩu lại chưa có thương hiệu nổi tiếng.

 GS Trần Duy Quý cho rằng: “Bản đồ công nghệ trong chọn tạo giống lúa giúp cho cơ quan chức năng, doanh nghiệp lập ra chiến lược phát triển cho mình. Ví dụ, ở cấp quốc gia phải tạo được các giống lúa có chất lượng xuất khẩu mang lại giá trị 600 – 800 USD/tấn. Các doanh nghiệp phải đưa ra chương trình phù hợp với năng lực của mình”. 

 Theo Bản đồ công nghệ trong ngành sản xuất lúa gạo và chọn tạo giống lúa mới được cung cấp, dù Việt Nam ở trong top 3 các nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới nhưng lại chưa có giống lúa gạo xuất khẩu mang thương hiệu Việt. Đánh giá của Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia cho thấy hiện Việt Nam sử dụng nhiều giống lúa nhưng tỷ lệ sử dụng giống xác nhận thấp và thiếu giống chất lượng để sản xuất gạo loại 1-2-3. Cụ thể, giống lúa mới được tạo ra nhiều, nhưng trụ lại trong sản xuất ít, khó kiểm soát được chất lượng giống lúa trong sản xuất. Phần lớn giống có nguồn gốc nhập nội và thuần hóa thành giống của Việt Nam nên hạn chế trong việc xuất khẩu có thương hiệu. Đồng thời, tỷ trọng xuất khẩu các giống lúa chất lượng cao còn thấp, chưa có giống lúa xuất khẩu mang thương hiệu Việt. Bộ NNPTNT cũng cho biết hiện nay Việt Nam đáp ứng được 100% nhu cầu giống lúa thuần nhưng khả năng đáp ứng giống lúa lai chỉ là 35%. Còn lại phải nhập khẩu từ Trung Quốc, Ấn độ với giá trị nhập khẩu gần 35 triệu USD/năm.

 GS-TSKH Trần Duy Quý – Viện trưởng Viện Nghiên cứu hợp tác khoa học kỹ thuật châu Á – Thái Bình Dương cho hay: “Hiện chúng ta tổ chức sản xuất và liên kết chuỗi còn yếu, thiếu tiêu chuẩn gạo phù hợp với thị trường thế giới và chưa có thương hiệu gạo quốc gia”.

 50% gạo xuất khẩu mang thương hiệu Việt Nam...

 Mục tiêu phát triển ngành lúa gạo Việt Nam được đặt ra trong bản đồ công nghệ ngành sản xuất lúa gạo là đến 2030 phải tăng cường sử dụng giống lúa thơm hạt dài, giống đặc sản bản địa; giảm tỷ lệ tổn thất sau thu hoạch dưới 6%. Đồng thời, 50% lượng gạo xuất khẩu mang thương hiệu gạo Việt Nam; 30% lượng gạo xuất khẩu thuộc nhóm gạo thơm và đặc sản.

 Để đạt mục tiêu đó, cần xây dựng bản đồ sinh thái giống lúa theo vùng; lai tạo giống lúa thơm hạt dài và cải tiến các giống đặc sản bản địa đáp ứng nhu cầu thị trường nhằm xây dựng thương hiệu Gạo Việt Nam đến 2030 có 10 giống cấp 1-2-3. Các nhà khoa học cũng đề nghị cơ quan nhà nước cần ưu tiên cải tạo các giống bản địa tăng năng suất, kháng sâu bệnh, tạo ra các giống thương hiệu Việt Nam...

 Ông Trần Văn Tùng – Thứ trưởng Bộ KHCN:  “Bản đồ công nghệ trong ngành sản xuất lúa gạo là sự thành công của kết quả nghiên cứu trong nhiều năm. Nhờ đổi mới công nghệ, việc sản xuất lúa gạo tăng trưởng 35%, đây là vấn đề rất có ý nghĩa. Những nước khác trên thế giới họ có cơ sở dữ liệu rất đáng tin cậy cũng mất vài chục năm. Bản đồ công nghệ được công bố cho thấy chúng ta đang dùng công nghệ gì và trình độ như thế nào trong chuỗi sản xuất lúa gạo. Từ đó định hướng nghiên cứu trong tương lai, tập trung nguồn lực một cách đúng đắn nhất”.
 GS-TS Nguyễn Thị Lang - Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long: “Chúng tôi đã nghiên cứu tạo thành công 7 giống lúa có khả năng chống chịu hạn, mặn phù hợp với canh tác ở ĐBSCL. Trong đó có những giống có khả năng cùng lúc chống chịu hạn, mặn và bệnh rầy nâu. Các giống nghiên cứu thử nghiệm có khả năng chống chịu môi trường hạn trong 2 – 3 tuần, mặn từ 4/1.000 trở xuống, chống chịu rầy nâu và bệnh đạo ôn cấp 3 – 5”.

Nguồn: Theo Báo Dân Việt



Thứ Hai, ngày 27 tháng 6 năm 2016

Sửa Nghị định 109: đi tìm “nút thắt”


Nghị định số 109/2010/NĐ-CP về kinh doanh xuất khẩu gạo là công cụ có giá trị pháp lý cao nhất đầu tiên điều chỉnh hoạt động kinh doanh một mặt hàng. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, nó đã sớm bộc lộ những bất ổn, cho nên Chính phủ lại một lần đặt quyết tâm sửa đổi.  

Lỗ hổng vùng nguyên liệu 

 Trong khi tuyệt đại bộ phận hộ nông dân sản xuất lúa của nước ta chỉ có quy mô sản xuất nhỏ, thậm chí siêu nhỏ, chủ yếu sản xuất theo tập quán và kinh nghiệm thì điều kiện để thương nhân được cấp “giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo” lại chỉ nhắm vào khối lượng, chứ không phải chất lượng gạo xuất khẩu.

 Số liệu Tổng điều tra nông dân, nông nghiệp và nông thôn gần đây nhất của nước ta cho thấy, ngay cả tại vựa lúa lớn nhất nước là đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), số hộ có diện tích đất lúa dưới 2 héc ta cũng lên tới gần 1,2 triệu hộ, chiếm 86,6%, còn nếu tính chung cả hai vựa lúa lớn nhất nước (ĐBSCL và đồng bằng sông Hồng) thì các con số này lên tới gần 4,1 triệu hộ và 95,7%.

 Trong điều kiện sản xuất như vậy mà không có sự liên kết giữa nông dân với doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu gạo để hướng vào đáp ứng những nhu cầu cụ thể thì nguồn cung gạo xuất khẩu của nước ta không khác gì những “núi gạo tạp pí lù”.

 Trong khi đó, ngoài việc được thành lập, đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, một doanh nghiệp muốn được công nhận đủ điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo phải đồng thời có hai điều kiện: 1) Có ít nhất một kho chuyên dùng với sức chứa tối thiểu 5.000 tấn thóc phù hợp quy chuẩn và 2) Có ít nhất một cơ sở xay, xát thóc, gạo với công suất tối thiểu 10 tấn thóc/giờ phù hợp quy chuẩn.

 Nghị định mới cần tạo ra khuôn khổ pháp lý để vừa khuyến khích, vừa áp đặt mệnh lệnh buộc các doanh nghiệp phải liên kết chặt chẽ với nông dân để nâng cao chất lượng gạo xuất khẩu, thể hiện qua thương hiệu gạo. 

Điều này có nghĩa là, Nghị định 109 không yêu cầu doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu gạo có nhiệm vụ xây dựng vùng nguyên liệu.

 Cũng có thể biện minh rằng, phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ, xây dựng cánh đồng lớn là vấn đề chung đối với các loại nông sản, chứ không phải chỉ riêng đối với lúa gạo, cho nên “kẽ hở” này đã được “lấp đầy” sau khi Chính phủ ban hành Quyết định số 62/2013/QĐ-TTg ngày 25-10-2013 về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn.

 Tuy nhiên, bên cạnh việc thương nhân xây dựng dự án hoặc phương án cánh đồng lớn và xây dựng vùng nguyên liệu thuộc quyền quản lý, sử dụng của mình, Bộ Công Thương còn chấp thuận cả việc thương nhân chỉ ký hợp đồng liên kết sản xuất và tiêu thụ lúa, gạo với hộ nông dân trồng lúa hoặc đại diện của hộ nông dân và coi đây là tiêu chí ưu tiên để được cấp “Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo”.

 Thật khó có thể hình dung rằng, sự liên kết rất lỏng lẻo như vậy lại bảo đảm cho thương nhân có được nguồn nguyên liệu đáp ứng được yêu cầu xây dựng thương hiệu gạo, cho nên có lẽ cũng sẽ không quá võ đoán khi nói rằng, 20% sản lượng gạo xuất khẩu mang thương hiệu Việt Nam và tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu vào năm 2020 là mục tiêu quá xa vời.

 Lợi nhuận siêu ngạch và gạo xuất khẩu vô danh

 Nếu như gạo không có thương hiệu là điểm yếu nổi bật nhất trong sản xuất thì “người anh em sinh đôi” của nó trong lưu thông là sự phụ thuộc vào một số rất ít thị trường.

 Các số liệu thống kê của nước ta và ITC cho thấy, kể từ thời điểm sốt nóng giá gạo thế giới 1998 đến nay, lượng gạo của nước ta xuất khẩu vào ba thị trường Đông Nam Á gồm Philippines, Indonesia và Malaysia đạt gần 38 triệu tấn, chiếm 39,5% tổng lượng gạo xuất khẩu và chiếm hơn 60% tổng lượng gạo nhập khẩu của ba thị trường này.

 Đặc điểm nổi bật nhất của ba thị trường này là, ngoại trừ Malaysia, lượng gạo nhập khẩu của Indonesia và Philippines rất không ổn định. Chẳng hạn, nếu như trong năm 2007, ba thị trường này nhập của chúng ta tới trên 3 triệu tấn, chiếm gần hai phần ba tổng lượng xuất khẩu thì trong năm 2013, cả ba chỉ nhập 1,1 triệu tấn... Năm nay, sau khi hoàn thành các hợp đồng xuất khẩu gạo lớn cho Philippines và Indonesia trong hai tháng đầu năm, đẩy tiến độ xuất khẩu tăng kỷ lục, thì hiện tại, ta phải “ngồi ngóng” những động thái mới từ chính trường của hai quốc gia bạn hàng truyền thống này.

 Tại sao xuất khẩu gạo của nước ta lại tập trung quá nhiều vào ba thị trường này và rơi vào trạng thái bị động như vậy? Liệu đây có phải là nguyên nhân khiến gạo xuất khẩu của chúng ta cho đến nay vẫn “vô danh” hay không?

 Câu trả lời chung là có. Lợi nhuận siêu ngạch là động lực khiến gạo được tập trung xuất khẩu vào đây như vậy và chính nó là vật cản khiến gạo xuất khẩu của chúng ta “vô danh” lâu đến như vậy.

 Các kết quả tính toán từ các số liệu thống kê cho thấy, trong khi chiếm 39,5% về lượng như nói trên, kim ngạch xuất khẩu gạo vào ba thị trường này trong 18 năm qua đã chiếm 40,8%. Còn tính theo giá bình quân thì xuất khẩu vào ba thị trường này đạt 384 đô la Mỹ/tấn, trong khi các thị trường còn lại chỉ đạt 364 đô la Mỹ/tấn. Cho dù, gạo xuất khẩu vào ba thị trường này tuyệt đại bộ phận chỉ là gạo 15% tấm và gạo 25% tấm, tức là tuyệt đại bộ phận gạo đặc sản, gạo thơm, gạo nếp... có giá cao hơn đã được xuất khẩu vào các thị trường còn lại.

 Khoản chênh lệch giá ít nhất là 20 đô la Mỹ/tấn nói trên là lợi nhuận siêu ngạch và khi Nhà nước không điều tiết thì đương nhiên các doanh nghiệp thực hiện các hợp đồng vào ba thị trường này được hưởng.

 Ngoài ra, gạo xuất khẩu vào những thị trường này là gạo “tạp pí lù”, các doanh nghiệp rất dễ kiếm, không phải xây dựng vùng nguyên liệu, càng không phải nhọc công xây dựng thương hiệu.

 Như vậy, vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt mà nghị định mới về kinh doanh xuất khẩu gạo cần điều chỉnh là tạo ra khuôn khổ pháp lý để vừa khuyến khích, vừa áp đặt mệnh lệnh buộc các doanh nghiệp phải liên kết chặt chẽ với nông dân để nâng cao chất lượng gạo xuất khẩu, thể hiện qua thương hiệu gạo mà mỗi doanh nghiệp phải tự xây dựng cho mình và được thị trường chấp nhận. Chính đó mới là mục tiêu cuối cùng mà chúng ta phải đạt được trong cả chặng đường dài trước mắt, chứ không phải là những dự án, phương án hay những hợp đồng liên kết được chính quyền cấp này hay cấp khác “đóng dấu đỏ”, nhưng chưa chắc đã được thị trường chấp nhận.

Nguồn: Theo Thời báo kinh tế Sài Gòn



Bỏ lúa thu đông, nông dân sẽ làm gì


Bộ NN-PTNT đang chủ trương mở rộng sản xuất lúa vụ TĐ năm 2016 nhằm bù sản lượng bị thiếu hụt do hạn, mặn trong vụ ĐX.

Tuy nhiên, thời gian qua, có những ý kiến cho rằng không nên mở rộng vụ TĐ bởi nhiều vấn đề liên quan tới hiệu quả kinh tế, xã hội...

 PV đã trao đổi với thạc sỹ Lê Thanh Tùng, Phó trưởng phòng Cây lương thực và Cây thực phẩm (Cục Trồng trọt - Bộ NN-PTNT) xung quanh vấn đề này.

 Thạc sỹ Lê Thanh Tùng, Phó trưởng phòng Cây lương thực và Cây thực phẩm
 (Cục Trồng trọt - Bộ NN-PTNT). 

 Thưa ông, Bộ NN-PTNT có chủ trương mở rộng sản xuất lúa vụ 3 (thu đông) trong năm nay. Nhưng đây không phải lần đầu tiên Bộ có chủ trương này, mà đã nhiều lần khuyến cáo mở rộng vụ 3 trong những năm trước đây. Vì sao Bộ lại coi trọng vụ 3 như vậy? 

 - Trước hết, phải gọi là vụ lúa TĐ trong cơ cấu 3 vụ sản xuất lúa ở ĐBSCL, mà không gọi vụ là 3. Nói rõ như vậy để tránh sự nhầm lẫn, vì vụ thứ 3 trong cơ cấu 3 vụ ở các tỉnh vùng ven biển ĐBSCL lại là vụ ĐX (theo thứ tự hè thu - thu đông - đông xuân), chứ không phải là vụ TĐ.

 Vụ lúa TĐ bắt đầu được sản xuất từ thập niên 80 của thế kỷ 20 ở những vùng ngập nông, chuyển từ cơ cấu 1 vụ lúa Mùa sang cơ cấu 2 vụ lúa là ĐX - HT, một số ít diện tích chuyển sang cơ cấu 3 vụ: ĐX sớm – XH – HT muộn và ĐX - HT- TĐ.

 Trước đây vụ TĐ thường xuống giống vào đầu tháng 6 và kéo dài đến tháng 9, dẫn đến việc bố trí vụ lúa ĐX hàng năm gặp nhiều khó khăn do thời gian thu hoạch lúa TĐ kéo dài đến tháng 11. Từ năm 2007, thời vụ TĐ bắt đầu khoảng cuối tháng 6 và chấm dứt vào khoảng 20 tháng 8.

 Năm 2011, Bộ NN-PTNT đã chủ trương rà soát và quy hoạch sản xuất lúa TĐ vùng ĐBSCL. Bộ có chủ trương đó là vì thực tế cho thấy làm lúa TĐ có những ưu điểm sau: Gieo sạ trong mùa mưa nên không bị khô hạn, đủ lượng nước cho cây lúa sinh trưởng và phát triển; lúa TĐ thu hoạch vào đầu mùa khô, thuận tiện cho việc phơi sấy, không bị mưa như vụ HT, do đó chất lượng cao hơn lúa HT; năng suất lúa cao, có nơi đạt 6-7 tấn/ha; thời điểm thu hoạch vụ TĐ thường dễ tiêu thụ lúa gạo hàng hóa; vụ TĐ còn có nhiệm vụ sản xuất lúa giống cho vụ ĐX.

 Tuy nhiên, bất lợi của vụ TĐ ở những vùng ảnh hưởng lũ là thời vụ canh tác nghiêm ngặt, khung thời vụ hẹp, thời gian giãn cách giữa 2 vụ ngắn và độ an toàn không cao nếu như hệ thống thủy lợi phục vụ sản xuất không đảm bảo.

 Vụ thu đông mang lại hiệu quả kinh tế ra sao cho người trồng lúa ở ĐBSCL?

 -Viện Lúa ĐBSCL đã điều tra điều tra hộ nông dân tại 4 tỉnh/thành có diện tích canh tác lúa vụ TĐ cho thấy có tới 91% hộ làm lúa vụ TĐ có lời, chỉ có 1% bị thua lỗ và 8% hòa vốn. Những hộ không thành công là do làm tự phát, mới làm lần đầu và sản xuất bên ngoài đê bao.

 Sản lượng lúa vụ TĐ xấp xỉ 50% sản lượng lúa vụ ĐX, HT, đóng góp hơn 1 triệu tấn gạo hàng hóa. Quan trọng hơn có hơn 800 ngàn hộ nông dân có thu nhập trong khoảng thơi gian làm lúa TĐ so với không làm việc gì trong 4 tháng. Để đất nhàn rỗi.

 Có những ý kiến cho rằng không nên mở rộng sản xuất vụ thu đông vì sẽ phải làm nhiều đê bao ngăn lũ, khi ấy sẽ gây ra những hệ lụy như nước dồn về các khu đô thị gây ngập sâu hơn, phù sa không vào được đồng ruộng khiến đất nhanh bạc màu, hàng năm tốn kém nhiều kinh phí để tu bổ đê bao bảo vệ lúa thu đông, đất ruộng không có nhiều thời gian để nghỉ ngơi, để phân hủy các chất hữu cơ... Theo ông những lo ngại này có cơ sở không? Nếu có thì có thể hạn chế, khắc phục bằng cách nào? 

 - Dân cư ở ĐBSCL có một đặc điểm là nhà cửa gắn liền với đất ruộng. Vì thế, đê bao trong vùng ảnh hưởng lũ không chỉ bảo vệ ruộng lúa mà còn có chức năng bảo vệ khu dân cư, nhà cửa của nông dân, đồng thời tạo nên những tuyến đường giao thông mang yếu tố kinh tế, xã hội, phục vụ không chỉ sản xuất lúa mà cả nuôi trồng thủy sản. Với nhiều mục đích lớn như trên, thì đầu tư xây dựng, tu bổ đê bao là cần thiết và không nên đem kinh phí xây dựng, tu bổ đê bao để so sánh với giá trị của vụ lúa TĐ.

 Sản xuất lúa cũng cần phải cung cấp nước, không phải hoàn toàn khép kín. Do đó, nhiều diện tích lúa TĐ ở vùng ngập sâu thuộc Đồng Tháp, An Giang và vùng ngập nông Tiền Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ, được thu hoạch lúa TĐ trước khi lũ đạt đỉnh cao, sau đó nước lũ đã được đưa vào để lấy phù sa, vệ sinh đồng ruộng…

 Một nghiên cứu dài hạn của Viện Lúa ĐBSCL từ 1986 tới nay cho thấy, xét về độ phì thực tế trên các vùng trồng từ 2-3 vụ lúa/năm, thậm chí là 7 vụ/2năm, thì năng suất lúa năm sau luôn bằng hoặc cao hơn so với năm trước, mặc dù lượng phân bón đa lượng không tăng.

 Các kết quả từ thí nghiệm cung cấp dinh dưỡng N, P, K tại Viện Lúa ĐBSCL cho thấy chỉ những ô không bón lân (P) thì năng suất có xu hướng giảm dần theo thời gian. Còn nếu bón đầy đủ dinh dưỡng N, P, K, năng suất lúa không thay đổi. Do vậy việc khuyến cáo bón phân cân đối vẫn là giải pháp hữu hiệu để duy trì năng suất lúa.

 Về lâu dài, có nên tiếp tục mở rộng lúa thu đông nữa hay không? Mở rộng đến mức nào? 

 - Quan điểm của Bộ NN-PTNT là sản xuất lúa TĐ phải an toàn, chỉ canh tác ở những nơi không bị ảnh hưởng của ngập lũ gây tổn hại cho sản xuất và gây thiệt hại về thu nhập cho nông dân.

 Lúa TĐ chỉ nên mở rộng ở những vùng đã được hoàn chỉnh về đê bao, ở những nơi đã và đang sản xuất cũng cần tiếp tục hoàn thiện đê bao đảm bảo an toàn cho sản xuất và dân sinh. Như vậy theo quy hoạch diện tích TĐ tối đa ở ĐBSCL cũng chỉ đạt khoảng 900 ngàn ha, chiếm khoảng 50% diện tích canh tác lúa trong toàn vùng.

 Nếu như không làm lúa thu đông thì nông dân vùng ngập lũ có thể làm gì khác để sinh sống trong mùa lũ với hiệu quả không kém, thậm chí còn cao hơn so với làm lúa? 

 - Câu hỏi này chúng tôi cũng đã đặt ra nhiều năm trước và lời giải cũng có nhiều. Chúng ta cũng thường đồng ý với nhau là sản xuất lúa không lợi nhuận bằng các loại cây trồng khác, vật nuôi hay thủy sản. Thế nhưng, lại rất khó có thể phát triển một loại hình canh tác nào luân canh với cây lúa vào mùa vụ TĐ để sản xuất trên diện tích tới 800 ngàn ha ở vùng ĐBSCL như hiện nay.

 Việc đa dạng hóa các loại hình canh tác trong vùng ảnh hưởng lũ, thích nghi với lũ là mong muốn của ngành nông nghiệp cũng như các địa phương, và trên thực tế đã xuất hiện nhiều mô hình nuôi cá, tôm… trong mùa lũ có hiệu quả. Nhưng những diện tích như vậy rất nhỏ, khó mở rộng vì sự bấp bênh, không an toàn.

 Nếu như không làm lúa TĐ thì câu hỏi đặt ra cho chúng ta là khoảng 800 ngàn hộ nông dân sẽ sống ra sao trong mùa lũ. Trong một cuộc điều tra của Viện Lúa ĐBSCL, có tới 98% nông dân được phỏng vấn đều trả lời là vẫn tiếp tục làm vụ TĐ trong các năm tiếp theo.

 Xin cám ơn ông! 

 Nguồn: Theo Thanh Sơn (Nông nghiệp Việt Nam)



Thương nhân nước ngoài săn tìm gạo Việt

Từng nhiều năm bị đánh giá thấp hơn gạo Thái Lan, Ấn Độ, thậm chí cả gạo Campuchia, nhưng từ đầu năm đến nay một số loại gạo Việt có thương hiệu được thương nhân nước ngoài tìm mua nhiều hơn.


PGS.TS Dương Văn Chín trao đổi với nông dân An Giang trên cánh đồng sản xuất lúa Lộc Trời 1 - Ảnh: V.TR.

Một số loại gạo khác do người Việt nghiên cứu, lai tạo cũng được các nhà nhập khẩu lớn trên thế giới săn tìm để cung cấp cho các thị trường cao cấp.

Gạo ngon không đủ bán!

Ông Phạm Thanh Thọ (phó giám đốc ngành lương thực Tập đoàn Lộc Trời) cho biết từ đầu năm 2016 đến nay tập đoàn phải từ chối rất nhiều đơn hàng gạo Lộc Trời 1 (tên cũ là AGPPS 103) do diện tích sản xuất giống lúa này chỉ mới hơn 10.000ha, sản lượng không đủ cung cấp.

Theo ông Thọ, sở dĩ loại gạo này được các nhà nhập khẩu đặt mua nhiều vì vừa được Tổ chức The Rice Trader công nhận là một trong ba loại gạo ngon nhất thế giới vào cuối năm 2015, tại cuộc tranh tài diễn ra ở Malaysia với 25 loại khác đến từ nhiều quốc gia.

Theo đánh giá của một số thành viên ban giám khảo, loại gạo này thậm chí còn ngon hơn cả Jasmine 85 - từng đoạt giải gạo ngon nhất thế giới trong các cuộc thi trước đây.

Ngay sau khi gạo Lộc Trời 1 lọt vào top 3 của cuộc thi nêu trên, nhiều nhà nhập khẩu nước ngoài như Tập đoàn Louis Dreyfus, Công ty Abound Zoom Trading và nhiều doanh nghiệp của Hong Kong, Canada, Trung Đông, Philippines... đã đặt hàng mua với sản lượng lớn.

Theo ông Thọ, từ đầu năm đến nay đã có ít nhất 20.000 tấn gạo Lộc Trời 1 có mặt trên kệ siêu thị ở nước ngoài.

PGS.TS Dương Văn Chín (giám đốc Trung tâm nghiên cứu nông nghiệp Định Thành, An Giang) cho biết giống lúa này được trung tâm bắt tay vào nghiên cứu từ năm 2004.

Và phải mất 10 năm lai tạo rất gian nan, trung tâm mới tạo được loại giống lúa với các tiêu chuẩn như mong muốn, trước khi được Bộ NN&PTNT cho sản xuất thử trên đồng ruộng và chính thức được công nhận là giống quốc gia vào đầu năm nay.

“Lúa sản xuất từ giống này có chất lượng ổn định sau nhiều tháng dự trữ. Lúa để mấy tháng sau xay ra gạo vẫn cho cơm mềm, dẻo, thơm như lúc mới thu hoạch” - ông Chín cho biết.

Theo ông Đỗ Văn Ớt (xã Tân Tiến, huyện Tri Tôn, An Giang), sau khi được tập đoàn này ký hợp đồng bao tiêu lúa sản xuất từ giống lúa này vào năm 2015, gia đình ông làm ba vụ đều đạt năng suất 8 tấn/ha/vụ.

“Giống này dễ trồng hơn Jasmine 85 vì ít sâu bệnh, chi phí đầu tư thấp, lời nhiều” - ông Ớt nói. Một số nông dân ở huyện Hồng Dân (tỉnh Bạc Liêu) cho biết khi ruộng bị nhiễm mặn, lúa vẫn sống tốt và cho chất lượng gạo vẫn ngon.

Theo ông Chín, giống này trồng ở vùng nhiễm mặn sẽ cho hạt gạo bóng đẹp hơn, cơm ngon hơn khi trồng ở vùng nước ngọt hoàn toàn. “Chúng tôi dự kiến sẽ mở rộng diện tích ở các vùng ven biển nhằm tăng chất lượng gạo, giúp nông dân ổn định sản xuất và thu nhập”, ông Chín nói.

Gạo Việt giá cao

Tương tự, theo ông Lê Hùng Lân (giám đốc Công ty TNHH Hoa Tiên, TP.HCM), giống lúa Nàng Hoa 9 do đơn vị này lai tạo được nông dân các tỉnh ĐBSCL trồng rất nhiều vì chất lượng gạo cao, bình quân mỗi năm cung cấp hàng trăm tấn lúa giống xác nhận cho một số doanh nghiệp xuất khẩu đưa cho nông dân gieo sạ ở các cánh đồng lớn.

“Những diện tích này được sản xuất theo tiêu chuẩn sạch và bao tiêu xuất khẩu sang các thị trường khó tính”, ông Lân cho biết.

Một lãnh đạo Công ty TNHH Highland Dragon (có nhà máy chế biến gạo tại tỉnh Long An) cho biết đang bao tiêu hơn 1.000ha lúa của nông dân ở Đồng Tháp để chế biến gạo xuất khẩu cho thị trường Mỹ, Canada, Bắc Âu, Úc...

Công ty chỉ sản xuất hai giống lúa là Jasmine và Nàng Hoa 9 theo tiêu chuẩn an toàn thực phẩm của Mỹ, theo yêu cầu của các nhà nhập khẩu như American Rice, Riviana Rice (Mỹ), Loblaws (Canada), COOP (Đan Mạch)...

“Các nhà nhập khẩu gạo đến tận vùng nguyên liệu và nhà máy để kiểm tra rất kỹ về quy trình sản xuất, chế biến và xét nghiệm xem gạo thành phẩm có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật hay không mới nhập khẩu. Đương nhiên là họ đã trả giá khá cao để mua gạo của chúng tôi”, vị này cho biết.

Do đã khẳng định được thương hiệu và có chỗ đứng vững chắc ở các thị trường cao cấp, doanh nghiệp này đang có kế hoạch mở rộng vùng nguyên liệu hàng trăm hecta tại huyện Vĩnh Hưng, Long An. Quá trình sản xuất được giám sát chặt chẽ cho đến khi thu hoạch.

“Chỉ có những loại thuốc nào phía Mỹ cho phép, nông dân mới được dùng. Người nào không phun thuốc, cuối vụ sẽ thưởng thêm tiền”, lãnh đạo doanh nghiệp này cho biết.

Theo GS.TS Võ Tòng Xuân (chuyên gia nông nghiệp), việc các tập đoàn nhập khẩu gạo nổi tiếng thế giới chọn mua gạo Việt có chất lượng tốt là dấu hiệu đáng mừng, cho thấy gạo Việt có nhiều loại rất ngon. Tuy nhiên, theo ông Xuân, do nhiều doanh nghiệp trộn đủ thứ gạo có kích cỡ hạt, chất lượng khác nhau vào một bao để xuất khẩu nên riết rồi gạo Việt bị mang tiếng.

“Cách làm hiện nay của một số doanh nghiệp rất phù hợp với nhu cầu của thị trường thế giới. Anh có giống lúa chất lượng cao, có vùng nguyên liệu “sạch”, có nhà máy chế biến hiện đại và có thương hiệu, nhà nhập khẩu sẽ tìm tới mua với giá cao thôi. Tôi cũng mong Việt Nam mình không còn những doanh nghiệp làm ăn chụp giật nữa để mỗi khi nhắc tới gạo Việt là người ta nói đó là gạo đẳng cấp” - ông Xuân nói.

Theo ông Huỳnh Văn Thòn (tổng giám đốc Tập đoàn Lộc Trời), đơn vị này còn một giống lúa chất lượng cao khác là Lộc Trời 18, hiện đang được sản xuất thử trên các cánh đồng lớn ở An Giang và Long An.

Giống lúa này có nhiều ưu điểm vượt trội là hạt gạo dài hơn 8mm, trồng được 3 vụ/năm cho năng suất, chất lượng tương đương nhau. Theo kế hoạch, tập đoàn sẽ mang giống lúa này đi tham dự đấu xảo chọn gạo ngon nhất thế giới, trước khi tung ra thị trường.

Vân Trường (Báo Tuổi Trẻ)

Năm 2016 sẽ xuất khẩu 5,7 triệu tấn gạo

Thông tin từ Hiệp hội Lương thực Việt Nam, dự kiến xuất khẩu gạo trong 6 tháng đầu năm ước đạt 2,732 triệu tấn trên cả nước. 6 tháng cuối năm ước đạt thêm 2,97 triệu tấn nữa. Như vậy, dự kiến cả năm xuất 5,7 triệu tấn gạo.


Hình ảnh minh họa

Trong đó, các sản phẩm gạo thơm, gạo chất lượng cao sẽ được ưu tiên xuất khẩu nhằm nâng giá trị, tăng thu nhập cho nhà nông.

Cụ thể, gạo thơm giống Jasmine xuất khẩu đã tăng tỷ lệ từ 22% lên 29% trong năm nay; tỷ lệ xuất khẩu lúa nếp cũng tăng nhanh số lượng, chiếm 6,58% tổng lượng xuất khẩu gạo năm 2015.

Thống kê cũng cho thấy, gạo xuất theo giá FOB trong 5 tháng đầu năm tăng 11,29% (bình quân tăng 6,06 USD/tấn), giá CIF tăng 12,29% so với cùng kỳ năm trước.

Theo Báo Thanh niên

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More