Chương trình theo dõi lúa ĐB sông Hồng

Ứng dụng công nghệ viễn thám đa thời gian trong công tác theo dõi lúa trên toàn vùng đồng bằng sông Hồng. Báo cáo hàng tháng được trình lên Bộ trưởng Bộ NN và PTNT.

Sử dụng tư liệu ảnh vệ tinh độ phân giải cao về thời gian

Tư liệu ảnh vệ tinh MODIS độ phân giải 250m chụp hàng ngày được thu nhận và xử lý tạo các tổ hợp 8 và 16 ngày phục vụ công tác nghiên cứu.

Nghiên cứu hạn hán hoặc ngập lụt

Bên cạnh công tác theo dõi lúa, chương trình cũng theo dõi các thảm họa thiên nhiên ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động sản xuất nông nghiệp như hạn hán, ngập lụt...

Theo dõi sâu bệnh

Theo dõi diện tích lúa bị sâu bệnh bằng phương pháp viễn thám, từ đó đưa ra mức độ cảnh báo về năng suất, chất lượng của mùa vụ.

Theo dõi quá trình xâm thực mặn

Phương pháp viễn thám được sử dụng trong công tác theo dõi xâm thực mặn từ biển gây ảnh hưởng đến quá trình canh tác sản xuất nông nghiệp và đời sống người dân...

Báo cáo kết quả trực tuyến

Các báo cáo được đăng tải hàng tháng trên trang web http://theodoilua.blogspot.com cùng bộ bản đồ trực tuyến xây dựng theo công nghệ WebGIS...

Thứ Sáu, ngày 24 tháng 10 năm 2014

Tổng hợp tin thị trường gạo ngày 23/10


Thái Lan đấu giá 207.899 tấn gạo. Tân Tổng thống Indonesia đặt mục tiêu tự túc gạo sau 4 năm. Giá gạo Nga tăng do hạn chế nhập khẩu từ Trung Quốc.

Giá gạo thế giới ngày 23/10/2014

Thái Lan bán đấu giá 207.899 tấn gạo vào tuần tới 

 Chính phủ Thái Lan sẽ bán đấu giá 207.899 tấn gạo từ kho dự trữ quốc gia vào ngày 28/10, Bộ Thương mại Thái Lan cho biết hôm 21/10.

 Phiên đấu giá sẽ diễn ra tại Văn phòng Cục Ngoại thương sau khi thông báo các đơn vị dự thầu đủ điều kiện cùng ngày.

 Tuần trước, Bộ Thương mại Thái Lan cho biết, chính phủ sẽ mở bán 80.000 tấn gạo trắng 5% tấm và 120.000 tấn gạo tấm.

 Hai phiên đấu giá trước, Bộ Thương mại Thái Lan đã bán 140.000 tấn gạo, thu về 1,7 tỷ baht (52,3 triệu USD). Hiện Thái Lan vẫn còn 18 triệu tấn gạo dự trữ và chính phủ đặt mục tiêu mở bán hết trong 3 năm tới thông qua nhiều kênh khác nhau như đấu giá, G2G, bán trực tiếp và qua Sàn giao dịch Nông sản Tương lai Thái Lan (AFET).

 Tân Tổng thống Indonesia đặt mục tiêu tự túc lúa gạo sau 4 năm 

 Tân Tổng thống Indonesia Joko Widodo đặt mục tiêu tự túc sản phẩm lương thực cơ bản như lúa gạo, ngô và đường trong 4 năm tới, Reuters đưa tin.

 Ông Joko Widodo kêu gọi nông dân làm việc tích cực để nâng sản lượng nông sản của Indonesia và đạt được mục tiêu tự túc lúa gạo, ngô và đường trong 4 năm tới. “Đây không phải là nhiệm vụ dễ dàng nhưng tôi tin với tinh làm việc tích cực, chúng ta có thể đạt được mục tiêu”, ông Widodo phát biểu trên truyền hình hôm thứ Hai 20/10.

 Cục Thống kê Trung ương (BPS) ước tính sản lượng lúa năm 2014 của Indonesia đạt 69,8 triệu tấn (44,3 triệu tấn gạo) giảm 2% so với 71,28 triệu tấn (45,3 triệu tấn gạo) năm 2013, chủ yếu do diện tích gieo cấy giảm 26.530 ha.

 Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) ước tính sản lượng gạo niên vụ 2013-2014 (tháng 1-12/2014) của Indonesia đạt 36 triệu tấn; nhập khẩu gạo năm 2014 đạt trên 1 triệu tấn; tiêu thụ đạt 38,65 triệu tấn, tăng 1% so với 38,13 triệu tấn năm 2013.

 Giá gạo tại Nga tăng do một số cảng hạn chế nhập khẩu từ Trung Quốc 

 Giá gạo tại Nga năm 2013 tăng chủ yếu do việc hạn chế nhập khẩu gạo từ Trung Quốc tại một số cảng, theo Văn phòng đại diện Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA Post) tại Nga.

 USDA Post trích lời của Phó Tổng giám đốc cảng JSC Habrechtorg cho biết, năm 2013, một số cảng của Nga, kể cả Khabarovsk và Nizhneleninskoye, được lệnh không tiếp nhận nhập khẩu gạo từ Trung Quốc, do vậy, các lô hàng gạo từ Trung Quốc phải chuyển hướng sang các cảng Grodekovo và Blagoveshchensk. Việc này làm tăng chi phí đối với nhà nhập khẩu và khiến giá gạo nhập khẩu tăng.

 Theo USDA Post, động thái nêu trên của Nga hồi năm ngoái đã khiến Trung Quốc lên kế hoạch thành lập trung tâm nông sản tại Nga, để từ đây có thể xuất khẩu nông sản như gạo vào Nga dễ dàng hơn.

 Theo USDA, mỗi năm Nga nhập khẩu khoảng 250.000 tấn gạo.

 Nguồn: Theo DVO/Reuters/Oryza



Thứ Năm, ngày 23 tháng 10 năm 2014

Trung Quốc tăng mua, giá gạo nội địa bật mạnh trở lại


Sau một thời gian dài thực hiện lệnh kiểm soát biên giới của Bắc Kinh, gần đây thương nhân Trung Quốc đã quay lại mua gạo tiểu ngạch từ Việt Nam. Điều này đã phần nào khuyến khích giá lúa gạo thị trường nội địa tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) bật tăng trở lại trong những ngày qua. 

 Trao đổi qua điện thoại với Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online, ông Nguyễn Công Khanh, một thương lái chuyên kinh doanh gạo tiểu ngạch sang Trung Quốc, ngụ tại Hải Phòng, thừa nhận gần đây hoạt động buôn bán gạo tiểu ngạch giữa thương nhân trong nước với đối tác phía Trung Quốc sôi động trở lại so với thời điểm Trung Quốc quyết định kiểm soát việc buôn bán gạo tại biên giới phía Bắc.

 Theo ông Khanh, do một số doanh nghiệp phía Bắc đang tập trung xả gạo tồn kho vì lệnh kiểm soát biên giới trước đó của Trung Quốc gây ra cho nên nhu cầu lấy gạo từ ĐBSCL dù có tăng nhưng chưa mạnh lắm. “Với đà mua mạnh trở lại của Trung Quốc như thế này, tôi nghĩ khoảng nửa tháng nữa thôi, thị trường gạo ĐBSCL sẽ sôi động lắm”, ông Khanh cho biết.

 Dù lượng hàng đi Bắc chưa nhiều nhưng theo ghi nhận của Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online, giá lúa gạo nội địa ở ĐBSCL gần đây đã tăng khoảng 200-300 đồng/kg so với mức giá của tuần rồi.

 Cụ thể, bà Ngô Ngọc Yến, Giám đốc doanh nghiệp gạo Yến Ngọc (TPHCM), cho biết tại thị trường chợ đầu mối lương thực Bà Đắc (huyện Cái Bè, Tiền Giang) hiện gạo nguyên liệu của giống IR 50404 có giá dao động khoảng 7.500 - 7.700 đồng/kg và 9.000-9.100 đồng/kg đối với gạo thành phẩm (tùy chất lượng).

 Trong khi đó, giá lúa IR 50404 tươi tại một số tỉnh ĐBSCL cũng nhanh chóng vượt lên mức giá 5.200-5.300 đồng/kg.

 Theo bà Yến, ngoài nhu cầu của Trung Quốc, việc mua gạo phục vụ cho tiêu thụ nội địa tăng trong khi lượng gạo hàng hóa trên thị trường không còn nhiều cũng là tín hiệu tốt khuyến khích giá lúa, gạo nội địa tăng mạnh trở lại trong những ngày qua.

 Về diễn biến của việc mua bán gạo chính ngạch, theo một số doanh nghiệp xuất khẩu tại ĐBSCL, hoạt động mua bán diễn ra khá trầm lắng và giá bán hầu như không có biến động nhiều so với tuần rồi.

 Cụ thể, gạo 5% tấm hiện được chào bán với giá 435-445 đô la Mỹ/tấn, gạo 25% tấm có giá 400-410 đô la Mỹ/tấn và gạo thơm Jasmines có giá 575-585 đô la Mỹ/tấn.

 Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), trong nửa đầu tháng 10-2014, doanh nghiệp hội viên của đơn vị này đã xuất khẩu được gần 140.000 tấn gạo các loại, trị giá FOB đạt gần 64 triệu đô la Mỹ. Lũy kế xuất khẩu gạo từ đầu năm đến ngày 15-10-2014 đạt gần 5 triệu tấn, trị giá FOB đạt trên 2,1 tỉ đô la Mỹ.

Nguồn: Theo Thời báo kinh tế Sài Gòn



Tiềm năng xuất khẩu gạo của Việt Nam sang thị trường Châu Phi


Vụ thị trường Châu Phi-Tây Á- Nam Á (Bộ Công Thương) cho biết nhu cầu nhập khẩu gạo của Châu Phi tiếp tục tăng trong thời gian tới là cơ hội cho Việt Nam, song gạo Việt cũng phải đối mặt với cuộc cạnh tranh khốc liệt về giá khi xuất khẩu sang thị trường này.

Nhận định này được đưa ra khi số liệu của Trung tâm Thương mại Quốc tế (ITC) cho thấy, trong năm 2013, Ấn Độ và Pakistan có xu hướng phát triển mạnh về sản lượng để xuất khẩu gạo giá rẻ nhiều hơn, bình quân khoảng 400 USD/tấn, trong khi giá gạo của Việt Nam vào khoảng 450–550 USD/tấn.

 Ngược lại, Thái Lan và Mỹ lại tập trung vào xuất khẩu các loại gạo có chất lượng cao, nên giá cao hơn hẳn so với các nước khác, bình quân trong khoảng 600-700 USD/tấn.

 Về triển vọng xuất khẩu gạo sang Châu Phi, một báo cáo nghiên cứu chung gần đây của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) và Tổ chức Nông lương Liên Hợp Quốc (FAO) cho thấy mặc dù có sự tăng trưởng khá về sản xuất gạo, nhưng nhu cầu nhập khẩu gạo của các nước Châu Phi sẽ tiếp tục tăng lên trong giai đoạn từ nay đến năm 2022.

 Theo đó, sản xuất gạo của các nước Châu Phi được dự báo sẽ đạt mức trên 28,0 triệu tấn vào năm 2022 và châu lục này vẫn phải nhập khẩu thêm 14,6 triệu tấn gạo để bảm đảm an ninh lương thực.

 Ai Cập dự kiến là nước có sản lượng gạo cao nhất với khoảng 3,8 triệu tấn, nhưng dự báo sản lượng gạo của Ai Cập đến năm 2022 khó có khả năng tăng trưởng do sản xuất đã gần như đạt mức giới hạn, nên nước này dự báo sẽ phải nhập khẩu trên 1 triệu tấn gạo vào năm 2022.

 Các nước Châu Phi khác thuộc tiểu vùng Sahara tuy có sản lượng gạo tương đối lớn, dự báo đạt khoảng 24,4 triệu tấn, song do có tốc độ phát triển dân số cao nên cũng sẽ phải nhập tới 12,8 triệu tấn gạo vào năm 2022.

 Theo thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam, tính đến hết tháng 8/2014, xuất khẩu gạo của Việt Nam sang một số thị trường chính tại châu Phi đạt khoảng 425,6 ngàn tấn với trị giá khoảng 204,1 triệu USD, chiếm 14,1% về lượng và 10% về trị giá tổng kim ngạch xuất khẩu gạo của cả nước.

 Trong đó, xuất khẩu gạo sang Ghana đạt 205.719 tấn, kim ngạch đạt 109,6 triệu USD (giảm 29% về lượng và giảm 19% về trị giá), sang Bờ Biển Ngà đạt 111.733 tấn, kim ngạch 51,2 triệu USD (giảm 73% về lượng và giảm 70% về trị giá), sang Senegal đạt 43.058 tấn, trị giá 15,0 triệu USD (giảm 2% về lượng và giảm 9% về trị giá), sang Nam Phi đạt 29.095 tấn, trị giá 12,1 triệu USD (tăng 7% về lượng nhưng giảm 2% về trị giá), sang An-giê-ri đạt 25.500 tấn, kim ngạch 11,0 triệu USD (giảm 64% về lượng và giảm 63% về trị giá), sang Angola đạt 10.520 tấn, kim ngạch 5,2 triệu USD (giảm 89% về lượng và giảm 87% về trị giá).

 Trước đó, trong năm 2013, Việt Nam đã xuất khẩu mặt hàng gạo sang 33 trên tổng số 55 nước châu Phi (tăng 5 thị trường so với năm 2012) với kim ngạch đạt 775,02 triệu USD, tăng 2% so với năm 2012. Gạo tiếp tục là mặt hàng xuất khẩu số 1 của Việt Nam tại khu vực này, chiếm 27% tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam sang châu Phi và chiếm 26% tổng kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam ra thế giới.

 Theo dự báo, đến năm 2022, Việt Nam sẽ tiếp tục là nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới sau Thái Lan. Tuy nhiên, một số nước hiện đang có chính sách đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu gạo sẽ là các đối thủ cạnh tranh trực tiếp của Việt Nam như Ấn Độ (có thể đạt mức xuất khẩu trên 5 triệu tấn), Pakistan (trên 4 triệu tấn), Mỹ (gần 4 triệu tấn). Các nước khác như Bra-xin, Uruguay mỗi nước có khả năng xuất khẩu trên 1 triệu tấn vào năm 2022.

Nguồn: Theo Trung Nghĩa - NDH



Người trồng lúa "đứng ngoài" thị trường gạo


Người trồng lúa không được tham gia định giá sản phẩm, luôn bị tư thương ép giá; gạo bán trong nước phải chịu thuế VAT còn gạo xuất khẩu được miễn thuế... là những bất hợp lý đang diễn ra trên thị trường lúa gạo Việt Nam.

Nông dân bị ép giá 

 Nông dân Trương Văn Tài (xã An Hòa, huyện Châu Thành, An Giang) phấn khởi vì vụ lúa hè thu năm nay, giá lúa khô bán được hơn 5 nghìn đồng/kg, tính ra cũng có lãi chừng 15 triệu đồng/ha. “Cả vụ chỉ trông cho thời tiết thuận lợi để được mùa, đến khi gặt lại ngóng thương lái thu mua cho được giá, bởi được mùa mà mất giá thì cũng bằng không”, ông Tài cho hay.

 Theo nghiên cứu của Liên minh Nông nghiệp Việt Nam, 93% nông dân đang bán lúa tươi tại ruộng cho các thương lái, bởi nông dân không có kho chứa, ít vốn, và vì vậy, họ dễ dàng bị các thương lái ép giá. Cũng bởi vì ít vốn, lại không tiếp cận được các quỹ tín dụng vi mô, nên nông dân thường phải vay mượn từ thương lái để mua giống, thuốc trừ sâu... và bị lệ thuộc vào thương lái.

 "Để có sân chơi công bằng và gạo Việt Nam nâng cao được uy tín, chất lượng và giá bán, cần phải có cơ chế để nông dân tham gia ấn định giá thu mua lúa mỗi vụ thông qua các tổ chức đại diện cho mình và có quy định riêng cho doanh nghiệp xuất khẩu gạo chất lượng cao”. GS. Võ Tòng Xuân

Trong khi đó, đa phần thương lái trực tiếp thu mua lúa của nông dân cũng hoạt động manh mún, họ chỉ có một ghe thuyền, không có kho chứa, nên cũng nhanh chóng chuyển số lúa thu mua được cho các thương lái lớn hơn và các thương lái đầu nậu này lại tổ chức xay xát, bán lại cho các doanh nghiệp lớn. Và những tầng lớp trung gian này đã đội giá gạo lên cao.

 Theo GS. Võ Tòng Xuân, một chuyên gia Nông nghiệp cho biết, hiện người trồng lúa hoàn toàn không có tiếng nói gì khi xác định giá bán lúa. Bởi mức giá sàn lúa gạo do Bộ Công thương phối hợp với Bộ NN&PTNT và Hiệp hội Lương thực Việt Nam xác định và công bố, còn mức giá trực tiếp do các thương lái quyết định trên cơ sở tín hiệu giá do các doanh nghiệp xuất khẩu ấn định.

 Chỉ hỗ trợ gạo xuất khẩu 

 Một điểm “tréo ngoe” nữa trên thị trường lúa gạo Việt Nam là quy định hiện hành, các công ty bán gạo trực tiếp cho người tiêu thụ gạo trong nước phải nộp thuế VAT 5% trong khi bán cho các doanh nghiệp xuất khẩu thì không phải nộp. “Đây là một thực tế phũ phàng khi người đóng thuế Việt Nam thực chất đang trợ cấp cho người tiêu dùng nước ngoài đối với gạo Việt Nam. Tại sao người Việt Nam ăn gạo Việt trên nước Việt phải chịu thuế, còn gạo Việt bán trên nước khác lại được hỗ trợ thuế?”, TS. Nguyễn Đức Thành, Trưởng nhóm nghiên cứu lúa gạo của Liên minh Nông nghiệp đặt vấn đề.

 Cho rằng quy định bất hợp lý này tạo ra sự bất lợi cho các doanh nghiệp muốn phát triển thị trường trong nước khi phải cạnh tranh với hệ thống phân phối gạo truyền thống qua mối quan hệ thương lái-tiểu thương, TS. Đào Thế Anh, Phó Viện trưởng Viện Cây lương thực - cây thực phẩm, cho rằng cần lập tức bãi bỏ thuế VAT sẽ tạo điều kiện để các doanh nghiệp gạo tạo dựng được các thương hiệu gạo trên thị trường nội địa, giúp người dân Việt Nam có cơ hội được sử dụng gạo có chất lượng cao hơn.

 TS. Đào Thế Anh cũng thẳng thắn chỉ ra, hiện các doanh nghiệp Nhà nước đang chiếm hơn 40% thị phần xuất khẩu gạo, và hiện đang hưởng ưu đãi nhiều nhất, nhưng hoạt động kém hiệu quả. Chẳng hạn, các doanh nghiệp Nhà nước với vốn lớn, kho bãi đầy đủ, hoàn toàn có thể xây dựng hệ thống thu mua gạo trực tiếp từ nông dân để nông dân bán được lúa với giá cao hơn, thì họ lại vẫn duy trì hình thức thu mua qua nhiều tầng lớp thương lái cho “nhàn” hơn, dễ thu lời hơn. “Do đó, cần giảm vai trò của doanh nghiệp Nhà nước, thay vào đó là khuyến khích và thúc đẩy tăng vai trò của doanh nghiệp tư nhân”, ông Đào Thế Anh đề xuất.

 “Giá mà Nhà nước giúp nông dân và doanh nghiệp kết nối với nhau. Doanh nghiệp có thể ràng buộc nông dân bằng cách hỗ trợ vốn ban đầu, công nghệ, giống lúa... với điều kiện nông dân phải bán sản phẩm đạt tiêu chuẩn cho doanh nghiệp, thì nông dân sẽ “dễ thở” hơn”, nông dân Trương Văn Tài mong mỏi.

Nguồn: Theo giaothongvantai.com.vn



Tổng hợp tin thị trường gạo ngày 22/10


Sản lượng lúa quý III Philippines ước đạt 3,01 triệu tấn. Pakistan xuất khẩu 221.715 tấn gạo trong tháng 9. 

Giá gạo thế giới ngày 22/10/2014 

 Sản lượng lúa quý III Philippines ước đạt 3,01 triệu tấn 

 Sản lượng lúa quý III của Philippines ước đạt 3,02 triệu tấn, giảm 10,5% so với 3,36 triệu tấn cùng kỳ năm ngoái, nhưng tăng 0,5% so với 2,99 triệu tấn dự báo trước đó, theo báo cáo của Văn phòng Thống kê Philippines (PBS). Nguyên nhân chủ yếu do bão Glenda gây thiệt hại nhiều ha trồng lúa.

 PBS ước tính, diện tích thu hoạch có thể giảm xuống 774.120 ha từ 774.670 ha năm ngoái, nhưng năng suất lại tăng lên 3,89 tấn/ha từ 3,86 tấn/ha trong năm ngoái.

 Bộ Nông nghiệp Philippines (DA) ước tính sản lượng lúa năm 2014 của Philippines đạt 19,65 triệu tấn. 6 tháng đầu năm sản lượng lúa đạt 8,379 triệu tấn, tăng 5% so với 7,997 triệu tấn cùng kỳ năm ngoái.

 Tổ chức Nông Lương Liên hợp quốc (FAO) dự báo sản lượng lúa của Philippines năm 2014 đạt 18,6 triệu tấn, giảm 1% so với 18,8 triệu tấn năm 2013, do diện tích gieo cấy giảm 2%.

 Trong khi đó, Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) ước tính sản lượng lúa của Philippines niên vụ 2014-2015 (tháng 7 – tháng 6) đạt 19,365 triệu tấn (khoảng 12,2 triệu tấn gạo), tăng 3% so với 18,822 triệu tấn năm trước đó.

 Pakistan xuất khẩu 221.715 tấn gạo trong tháng 9 

 Xuất khẩu gạo tháng 9 của Pakistan đạt 221.715 tấn, trị giá 132,9 triệu USD, tăng 20% khối lượng so với 184.311 tấn và tăng 27% giá trị so với 104,5 triệu USD trong tháng 8/2014, theo số liệu sơ bộ của Cục Thống kê Pakistan (PBS).

 Tuy nhiên, so với tháng 9/2013, xuất khẩu gạo trong tháng 9/2014 giảm 3% về khối lượng và giảm 6% giá trị.

 Tháng 9/2014 xuất khẩu gạo basmati đạt 54.663 tấn, trị giá 53 triệu USD, tăng 29% về khối lượng so với 42.240 tấn và tăng 45% giá trị so với 36,67 triệu USD trong tháng 8/2014; tăng 10% khối lượng so với 49.674 tấn và tăng 3% so với 51,22 triệu USD tháng 9/2013.

 Xuất khẩu gạo non-basmati trong tháng 9 đạt 167.052 tấn, trị giá 79,92 triệu USD, giảm 7% khối lượng so với 179.128 tấn và giảm 11% giá trị so với 89,51 triệu USD trong tháng 9/2013.

 3 tháng đầu năm tài khóa 2014-2015 (tháng 7/2014 – tháng 6/2015) xuất khẩu gạo của Pakistan, cả basmati và non-basmati, đạt 602.759 tấn, trị giá 362,8 triệu USD, giảm 5% khối lượng so với 635.637 tấn và giảm 10% giá trị so với 404,6 triệu USD cùng kỳ năm 2013-2014.

Nguồn: Theo DVO/Oryza



Thứ Tư, ngày 22 tháng 10 năm 2014

Ai đang thao túng thị trường lúa gạo?


Trong cơ cấu hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của nước ta, gạo là mặt hàng chiếm ưu thế lớn, qua đó giúp Việt Nam trở thành một trong 3 quốc gia xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới. 

 Tuy nhiên, thực tế thì người dân Việt Nam đang được hưởng lợi rất ít từ mặt hàng nông sản này do tổ chức sản xuất lỏng lẻo, chính sách hỗ trợ không sát thực tế, khả năng điều chỉnh thị trường kém… Nhận định này được đưa ra tại "Hội thảo chính sách xuất khẩu gạo hiện nay và tương lai của người sản xuất nhỏ ở Việt Nam" diễn ra ngày 21-10, do Liên minh Nông nghiệp và Viện Nghiên cứu chính sách - phát triển nông nghiệp Việt Nam phối hợp tổ chức.

 Thu hoạch lúa tại Đồng bằng sông Cửu Long. 

 Giá gạo xuất khẩu Việt Nam thấp 

 Từ nước sản xuất chỉ để cung ứng tiêu thụ trong nước, đến nay Việt Nam đã vươn lên thành nước xuất khẩu (XK) gạo lớn trên thế giới. Thị trường XK gạo chính của Việt Nam là Châu Á (chiếm 59%) và Châu Phi (chiếm 24%). Đáng lưu ý, trong những năm gần đây, tỷ trọng các hợp đồng XK chính phủ (G2G) có xu hướng giảm dần. Nếu năm 2007, tỷ trọng hợp đồng G2G chiếm 70% tổng lượng gạo XK của Việt Nam, thì năm 2009 tỷ lệ này giảm xuống còn 42,7% và đến năm 2012, 2013 chỉ còn khoảng 20%. Có một điểm đáng mừng là, tỷ trọng gạo thơm, gạo chất lượng cao XK đang ngày càng tăng.

 Tuy nhiên như TS Nguyễn Đức Thành, đại diện Liên minh Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, hạn chế lớn nhất ngành lúa gạo nước ta là chất lượng gạo XK. Điều này đã dẫn đến tình trạng cùng một chủng loại gạo, nhưng gạo Thái Lan thường có giá cao nhất và gạo Việt Nam có giá thấp nhất. Chẳng hạn, gạo thơm Hom Mali của Thái Lan có giá 1.025USD/tấn, còn gạo thơm của Việt Nam 5% tấm chỉ có giá 625USD/tấn.

 Khảo sát mới đây của Bộ NN&PTNT cho thấy, chỉ có một số lượng nhỏ nông trang sản xuất lúa tập trung, chiếm khoảng 2-3% sản lượng lúa bán ra ở Đồng bằng sông Cửu Long. Họ trồng và bán trực tiếp các loại lúa chất lượng cao cho các doanh nghiệp XK, thu được lợi nhuận cao, song phải đầu tư kỹ thuật lớn. Còn lại là quy mô sản xuất nông hộ, với 93% lúa tươi được bán tại ruộng cho các thương lái. Do có quy mô nhỏ, không có kho chứa, ít vốn, họ dễ bị các thương lái ép giá và thường chịu nhiều rủi ro, nhất là khi có biến động bất lợi trên thị trường (giá cả đầu vào sản xuất, giá lúa gạo bán ra). Sự thiếu vắng của các hình thức tín dụng vi mô khiến cho họ bị phụ thuộc nhiều vào các đại lý cung ứng đầu vào, hoặc tạm ứng của các môi giới/thương lái quen thuộc. Quy trình sản xuất của nông dân hoàn toàn dựa trên kinh nghiệm, thiếu sự gắn kết với doanh nghiệp XK, đặc biệt là hầu như không có khả năng làm giá trên thị trường. Hiện thương lái đang giữ vai trò quan trọng trong chuỗi giá trị lúa gạo, họ thực hiện thu mua lúa của nông dân, bán lại cho các nhà xay xát, hoặc thuê xay xát, rồi bán cho các doanh nghiệp XK hoặc các nhà buôn trong nước. Mặc dù, số lượng thương lái lớn, nhưng nguồn cung lúa của họ không ổn định do thiếu gắn kết với nông dân và phần lớn vẫn phải dựa vào lực lượng môi giới. Các thương lái này đầu tư ít vốn, phần lớn chỉ sở hữu một ghe thuyền, còn lại là đi thuê, một số rất ít đầu tư vào kho chứa và chủ yếu ăn chênh lệch giá…

 Bốc xếp gạo xuất khẩu tại Cần Thơ. 

  Nhiều câu hỏi lớn 

 Theo ông Võ Trí Thành, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý trung ương, dù Bộ NN&PTNT cùng các địa phương triển khai mô hình cánh đồng mẫu lớn, nhằm hình thành chuỗi sản xuất lúa gạo khép kín, song mới chỉ một số nhỏ nông dân tham gia được ký hợp đồng tiêu thụ nông sản với doanh nghiệp XK. Và dù được liên kết, nhưng thể chế bảo vệ lợi ích cho nông dân chưa phát triển. Ngoài ra, chính sách hỗ trợ từ ngân sách nhà nước đang đem lại lợi ích cho các doanh nghiệp thu mua và XK nhiều hơn, thay vì mục tiêu ban đầu là tăng tính cạnh tranh của ngành nông nghiệp và hỗ trợ nông dân. Đơn cử như chính sách quy định giá sàn thu mua lúa không đem lại lợi nhuận lớn hơn cho nông dân, mà còn vô tình cản trở nông dân chuyển dịch sang trồng các giống lúa chất lượng cao. Chính sách cho doanh nghiệp vay vốn ưu đãi để thu mua tạm trữ chưa chứng minh được hiệu quả rõ rệt trong việc bình ổn thị trường và hỗ trợ người dân yếu thế. Hay những quy định về điều kiện XK gạo hiện nay (Nghị định 109) đã ngăn cản một bộ phận doanh nghiệp với sản phẩm gạo đặc thù tham gia vào thị trường, triệt tiêu tính đa dạng của hàng xuất khẩu Việt Nam.

 Đồng quan điểm, Giáo sư Võ Tòng Xuân cho rằng, mức giá sàn do Bộ Công thương phối hợp với Bộ NN&PTNT và Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) xác định, công bố, người trồng lúa hoàn toàn không có tiếng nói gì trong các quyết định này. Cần phải có cơ chế chính thức để nông dân tham gia vào việc ấn định giá thu mua lúa mỗi vụ thông qua các tổ chức đại diện cho mình. Có như vậy sân chơi mới công bằng, dần dần gạo Việt Nam mới nâng cao được uy tín, chất lượng và giá bán…

 Thực tế cho thấy, để giải quyết bài toán ngành lúa gạo, cần làm rõ một số vấn đề như chính sách lúa gạo Việt Nam hiện nay có đang bị thao túng bởi một số nhỏ các doanh nghiệp XK (?); các tổ chức như Tổng Công ty Lương thực Miền Nam (Vinafood 2), VFA có thực sự đại diện cho lợi ích của ngành lúa gạo Việt Nam. Đặc biệt là đã đến lúc cần xem xét lại tổng thể vai trò của việc XK gạo trong nền ngoại thương Việt Nam như một động lực tăng trưởng. Muốn ngành lúa gạo Việt Nam phát triển, cần cải tổ lại sản xuất cũng như các chiến lược kinh tế và chính sách hỗ trợ.

Nguồn: Theo Báo Hà Nội mới



Việt Nam tiếp tục đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu gạo đến năm 2022


Ngày 21-10, Vụ Thị trường châu Phi, Tây Á, Nam Á (Bộ Công thương) dẫn báo cáo của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) và Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO) nhận định, đến năm 2022, Việt Nam vẫn tiếp tục là nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới sau Thái Lan. 

Tuy nhiên, một số nước hiện đang có chính sách đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu gạo sẽ là các đối thủ cạnh tranh trực tiếp của Việt Nam như Ấn Độ (có thể đạt mức xuất khẩu hơn năm triệu tấn), Pakistan (hơn bốn triệu tấn), Hoa Kỳ (gần bốn triệu tấn).

 Vụ Thị trường châu Phi cũng dự báo, gạo Việt Nam sẽ phải cạnh tranh khốc liệt tại thị trường đầu triển vọng châu Phi. Theo dự báo, mặc dù có sự tăng trưởng khá về sản xuất gạo nhưng đến năm 2022, châu Phi vẫn phải nhập khẩu thêm 14,6 triệu tấn gạo để bảm đảm an ninh lương thực.

Năm 2013, Việt Nam đã xuất khẩu mặt hàng gạo sang 33 trên tổng số 55 nước châu Phi với kim ngạch đạt hơn 775 triệu USD, tăng 2% so với năm 2012. Gạo tiếp tục là mặt hàng xuất khẩu số 1 của nước ta tại khu vực này, chiếm 27% tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam sang châu Phi và chiếm 26% tổng kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam ra thế giới.

Nguồn: Theo nhandan.org.vn



Nông dân phải được tham gia ấn định giá lúa gạo


Cần tính đủ chi phí sản xuất vào trong giá gạo xuất khẩu và có cơ chế cho người nông dân tham gia ấn định giá thu mua lúa- đó là hai trong số nhiều đề xuất nâng cao tính cạnh tranh cho ngành lúa gạo Việt Nam. 

Những đề xuất này được đưa ra tại Hội thảo chia sẻ kết quả nghiên cứu “Cấu trúc ngành lúa gạo và lợi ích của người sản xuất nhỏ" do Liên minh Vì quyền của nông dân và hiệu qủa của nền nông nghiệp Việt Nam (Liên minh nông nghiệp) được diễn ra sáng nay (21/10), tại Hà Nội.

 Theo Liên minh Nông nghiệp, sự gia tăng lúa gạo gần như liên tục trong hơn 20 năm qua đã giúp Việt Nam không những đảm bảo an ninh lương thực trong nước mà còn liên tục là một trong 3 nước xuất khẩu gạo nhiều nhất thế giới. Tuy nhiên, bất cập là khi sản lượng lúa tăng nhưng không kèm theo sự cải thiện thu nhập của nông dân. Việc chú trọng đến tăng sản lượng cũng dẫn đến chất lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam không cao, thị trường xuất khẩu tập trung ở phân đoạn thấp, kém đa dạng, đặc biệt là tập trung rất nhanh vào thị trường Trung Quốc. Khi những thị trường xuất khẩu này gặp khó khăn sẽ tạo sức ép giảm giá lên toàn bộ thị trường nội địa, gây thiệt hại cho các thành phần trong chuỗi sản xuất lúa gạo trong nước, đặc biệt là người nông dân.

 Theo ông Nguyễn Đức Thành, Trưởng nhóm nghiên cứu lúa gạo của Liên minh nông nghiệp, do được hưởng nhiều chính sách hỗ trợ và trợ cấp khác nhau từ ngân sách nhà nước nên ngành lúa gạo Việt Nam đang có khuynh hướng thừa nhóm sản phẩm có chất lượng trung bình và thấp, đang xuất khẩu với giá thấp Bên cạnh đó, các chính sách hỗ trợ từ ngân sách nhà nước đang đem lại lợi ích cho các doanh nghiệp thu mua và xuất khẩu nhiều hơn thay vì mục tiêu ban đầu là tăng tính cạnh tranh của ngành nông nghiệp và hỗ trợ nông dân.

 Liên quan về vấn đề này, Giáo sư Võ Tòng Xuân cho biết, hiện nay, mức giá sàn do Bộ Công Thương phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN & PTNT) và Hiệp hội Lương thực Việt Nam xác định và công bố, người trồng lúa hoàn toàn không có tiếng nói trong các quyết định liên quan đến chính sách hỗ trợ từ ngân sách nhà nước. Vì vậy, cần phải có cơ chế chính thức để người nông dân tham gia vào việc ấn định giá thu mua lúa mỗi vụ thông qua các tổ chức đại diện cho mình. Về các điều kiện đối với xuất khẩu gạo cũng cần có quy định riêng cho các doanh nghiệp khai thác thị trường ngách như gạo chất lượng cao, gạo đặc sản sản xuất với số lượng ít. Có như vậy sân chơi mới công bằng và dần dần gạo Việt Nam mới nâng cao được uy tín, chất lượng và giá bán.

 Các chuyên gia đưa ra khuyến nghị, để nâng cao tính cạnh tranh của ngành lúa gạo cần giảm số lượng nông dân, tích tụ ruộng đất để tăng năng suất và áp dụng công nghệ; nâng cao vị thế của nông dân. Nhóm nghiên cứu đề xuất một số giải pháp như bãi bỏ thuế VAT 5% với mặt hàng gạo tiêu thụ trong nước để tạo ra tính công bằng giữa doanh nghiệp phân phối gạo trong nước, doanh nghiệp xuất khẩu và tiểu thương; phát triển tài chính vi mô và bảo hiểm cho người nông dân, giúp nông dân bớt phụ thuộc vào các đơn vị cung ứng đầu vào, định hướng lại hoạt động của các tổng công ty lương thực để giúp chính sách với ngành lúa gạo được thực hiện thực sự hiệu quả…

Nguồn: Theo Báo Công thương



Việt Nam đang thừa nhiều sản phẩm lúa gạo chất lượng thấp


Các chuyên gia cho rằng điều này đồng nghĩa với việc người tiêu dùng, doanh nghiệp nước ngoài mới là bên hưởng lợi nhiều nhất từ các chính sách hỗ trợ xuất khẩu.

Tại Hội thảo chia sẻ kết quả nghiên cứu "Cấu trúc ngành lúa gạo và lợi ích của người sản xuất nhỏ" do Liên minh Nông nghiệp tổ chức sáng nay (21/10), nhóm nghiên cứu đã đi sâu phân tích từng mắt xích trong chuỗi sản xuất lúa gạo.

 Tiến sĩ Nguyễn Đức Thành – Giám đốc Viện nghiên cứu Chính sách Kinh tế (VERP), thành viên nhóm nghiên cứu cho biết thị trường xuất khẩu - đầu ra cuối cùng của lúa sản phẩm gạo là mắt xích quyết định toàn bộ các vấn đề của ngành tại Việt Nam.

 Trong khi đó, các doanh nghiệp xuất khẩu vì lợi ích riêng luôn muốn duy trì chính sách tăng sản lượng tối đa để xuất khẩu. Điều này đã dẫn đến việc khai thác đất tối đa phục vụ tăng sản lượng, thiếu chọn lọc về giống và chất lượng… Điều này đe dọa sự phát triển bền vững của ngành tại Việt Nam. Thực tế này đang diễn ra hầu khắp các địa phương tại đồng bằng sông Cửu Long.

  Lúa gạo Việt Nam đang thừa sản phẩm chất lượng thấp.

 "Do được hưởng nhiều chính sách hỗ trợ khác nhau từ ngân sách Nhà nước nên ngành lúa gạo Việt Nam đang có xu hướng sản xuất thừa nhóm sản phẩm có chất lượng trung bình và thấp. Điều này đồng nghĩa một thực tế là người đóng thuế Việt Nam đang trợ cấp cho người tiêu dùng nước ngoài đối với lúa gạo Việt Nam", Tiến sĩ Thành cho hay.

 Giám đốc VERP cho rằng Nhà nước nên tính đủ phần trợ cấp vào giá gạo xuất khẩu để phản ánh đúng chi phí sản xuất và đảm bảo quyền lợi của người dân. Xuất khẩu chú trọng vào tăng giá thay vì sản lượng mới tạo ra động lực cho doanh nghiệp và người nông dân chủ động đầu tư. Cùng đó, người sản xuất cần thay đổi công nghệ, lựa chọn giống lúa thuần chủng chất lượng cao làm tăng tính cạnh tranh và tạo dựng thương hiệu cho ngành lúa gạo Việt Nam.

 Theo nhóm nghiên cứu cần thiết giảm số lượng nông dân, tích tụ ruộng đất về tăng năng suất. Hiện nay, đa phần nông dân đang loay hoay với sự lựa chọn ở lại làm ruộng thì thu nhập không đủ chi tiêu, ra khỏi ruộng đất thì không có nhiều cơ hội trong khu vực công nghiệp và dịch vụ. "Điều này bộc lộ điểm yếu trong mô hình phát triển kinh tế của Việt Nam khi khu vực công nghiệp và dịch vụ không đủ tạo cầu về lao động, giúp người nông dân rút khỏi ruộng đất dễ dàng", kết quả nghiên cứu nêu rõ.

 Bên cạnh các khuyến nghị về giá gạo và nâng cao vị thế của nông dân, nhóm nghiên cứu cũng đề xuất một số giải pháp như bãi bỏ thuế VAT với mặt hàng gạo tiêu thụ trong nước tạo công bằng giữa doanh nghiệp phân phối gạo trong nước, doanh nghiệp xuất khẩu và tiểu thương. Ngoài ra phát triển tài chính vi mô và bảo hiểm cho người nông dân giúp họ bớt phụ thuộc vào các đơn vị cung ứng đầu vào…

Nguồn: Theo kinhdoanh.vnxepress.net



Nước ngoài đang hưởng lợi từ trợ cấp xuất khẩu gạo của Việt Nam?


Theo nghiên cứu của Liên minh Nông nghiệp, người đóng thuế Việt Nam thực chất đang trợ cấp cho người tiêu dùng nước ngoài đối với gạo Việt Nam. 

 Theo kết quả nghiên cứu “cấu trúc ngành lúa gạo và lợi ích của người sản xuất nhỏ Việt Nam” do Liên minh Nông nghiệp vừa công bố, do được hưởng nhiều chính sách hỗ trợ và trợ cấp khác nhau từ ngân sách Nhà nước nên ngành lúa gạo Việt Nam đang có khuynh hướng sản xuất thừa nhóm sản phẩm có chất lượng trung bình và thấp, đang xuất khẩu với giá thấp.

 TS Nguyễn Đức Thành, Trưởng nhóm nghiên cứu lúa gạo của Liên minh Nông nghiệp, cho rằng, thực tế này đang làm xuất hiện “một thực tế phũ phàng là người đóng thuế Việt Nam thực chất đang trợ cấp cho người tiêu dùng nước ngoài đối với gạo Việt Nam”.

 Chạy theo số lượng đe doạ sự phát triển bền vững 

 Thị trường xuất khẩu chính của gạo Việt Nam như biểu đồ sau:



 Trong những năm gần đây, tỉ trọng các hợp đồng chính phủ (G2G) có xu hướng giảm dần. Chẳng hạn, năm 2007, tỷ trọng hợp đồng G2G chiếm 70% trong lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam. Tỷ lệ này giảm xuống còn 42,7% năm 2009 và đến năm 2012, 2013 chỉ còn chưa đến 20%. Còn về chủng loại gạo xuất khẩu, 2-10% tấm vẫn đang chiếm ưu thế, chủ yếu là gạo giá thấp (như biểu đồ dưới).



 Tuy nhiên, có một điểm đáng mừng là tỷ trọng gạo thơm, gạo chất lượng cao xuất khẩu của Việt Nam đang ngày càng tăng. Song đáng buồn là, cùng một chủng loại gạo xuất khẩu nhưng gạo Thái Lan thường có giá cao nhất và gạo Việt Nam có giá thấp nhất. Chẳng hạn cùng là gạo hạt dài chất lượng cao, nhưng của Thái Lan vào tháng 7/2012 có giá 592USD/tấn, trong khi của Việt Nam chỉ có 415 USD/tấn. Tương tự, gạo thơm Hom Mali của Thái Lan có giá 1.025USD/tấn, còn gạo thơm của Việt Nam 5% tấm chỉ có giá 625 USD/tấn.

 Trong khi đó, nền sản xuất thì chỉ có một số lượng nhỏ nông trang sản xuất lúa tập trung, chiếm khoảng 2-3% sản lượng lúa bán ra ở ĐBSCL. Họ trồng và bán trực tiếp các loại lúa chất lượng cao cho các công ty xuất khẩu, thu được lợi nhuận cao nhưng phải đầu tư kỹ thuật lớn. Còn các hộ nông dân tồn tại với số lượng lớn, nhưng chủ yếu là quy mô nhỏ. Nông dân đang bán tới 93% lúa tươi tại ruộng cho các thương lái, nhưng dễ bị các thương lái ép giá và thường chịu nhiều rủi ro nhất khi có biến động bất lợi trên thị trường.

 Trên thị trường xuất khẩu gạo hiện nay vẫn còn thiếu vắng các liên kết ngang giữa các công ty (ví dụ như trong việc đàm phán giá lúa gạo xuất khẩu) và liên kết dọc với các công ty cung ứng đầu vào cho sản xuất. Xu hướng xây dựng vùng nguyên liệu hiện được thực hiện rất “gượng ép” do các doanh nghiệp chủ yếu dựa vào nguồn cung sẵn có trên thị trường, sản phẩm xuất khẩu không có sự khác biệt lớn, rủi ro về lợi nhuận cao do thị trường đầu ra không ổn định.

 Thực tế khảo sát của Liên minh Nông nghiệp cho thấy, “mắt xích quyết định hầu như toàn bộ các vấn đề của ngành lúa gạo hiện nay là thị trường xuất khẩu – đầu ra cuối cùng có ảnh hướng rất lớn tới định hướng sản phẩm lúa gạo của Việt Nam. Các doanh nghiệp xuất khẩu vì lợi ích của mình có khuynh hướng duy trì chính sách tăng sản lượng tối đa để xuất khẩu. Điều này dẫn tới một loạt hệ quả như sự khai thác đất tối đa phục vụ tăng sản lượng (3 vụ lúa), thiếu chọn lọc về giống và chất lượng,… đe dọa sự phát triển bền vững của ngành sản xuất lúa gạo Việt Nam, đặc biệt tại đồng bằng sông Cửu Long”.

 Chính sách hỗ trợ mang lợi cho doanh nghiệp hơn nông dân 

 Các thành viên Liên minh Nông nghiệp cũng cho rằng, các chính sách hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước đang đem lại lợi ích cho các doanh nghiệp thu mua và xuất khẩu nhiều hơn, thay vì mục tiêu ban đầu là tăng tính cạnh tranh của ngành nông nghiệp và hỗ trợ nông dân.

 Ví dụ, chính sách quy định giá sàn thu mua lúa không đem lại lợi nhuận lớn hơn cho nông dân mà còn vô tình cản trở người nông dân chuyển dịch sang trồng các giống lúa chất lượng cao. Chính sách cho doanh nghiệp vay vốn ưu đãi để thu mua tạm trữ chưa chứng minh được hiệu quả rõ rệt trong việc bình ổn thị trường và hỗ trợ người nông dân yếu thế. Hay những quy định về điều kiện xuất khẩu gạo hiện nay (Nghị đinh 109) vô hình trung ngăn cản một bộ phận doanh nghiệp với sản phẩm gạo đặc thù (sản lượng ít, nhưng lợi nhuận và tính cạnh tranh rất cao) tham gia vào thị trường, triệt tiêu tính đa dạng của hàng xuất khẩu Việt Nam.

 Trước thực trạng nêu trên, TS Nguyễn Đức Thành đề xuất: “nên tính đủ phần trợ cấp vào giá gạo xuất khẩu để phản ánh đúng chi phí sản xuất và đảm bảo quyền lợi của người dân. Xuất khẩu chú trọng vào tăng giá thay vì sản lượng, mới tạo động lực cho doanh nghiệp và người nông dân chủ động đầu tư, thay đổi công nghệ, lựa chọn giống lúa thuần chủng, chất lượng cao, làm tăng tính cạnh tranh và tạo dựng thương hiệu cho ngành lúa gạo Việt Nam”.

 Còn TS Đào Thế Anh, Phó Viện trưởng Viện Cây lương thực – Cây thực phẩm, thẳng thắn chỉ ra, các doanh nghiệp nhà nước hiện đang hưởng ưu đãi nhiều nhất, nhưng hiệu quả kém. Do đó, cần giảm vai trò của doanh nghiệp nhà nước, thay vào đó là khuyến khích và thúc đẩy tăng vai trò của doanh nghiệp tư nhân.

 Nhìn thẳng vào quy định về giá sàn hiện tại, Giáo sư Võ Tòng Xuân cho biết: “Hiện nay, mức giá sàn do Bộ Công Thương phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Hiệp hội Lương thực Việt Nam xác định và công bố, người trồng lúa hoàn toàn không có tiếng nói gì trong các quyết định này. Cho nên, cần phải có cơ chế chính thức để người nông dân tham gia vào việc ấn định giá thu mua lúa mỗi vụ thông qua các tổ chức đại diện cho mình. Về các điều kiện đối với xuất khẩu gạo cũng cần có quy định riêng cho các doanh nghiệp khai thác thị trường ngách như gạo chất lượng cao, gạo đặc sản xuất với số lượng ít. Có như vậy sân chơi mới công bằng và dần dần gạo Việt Nam mới nâng cao được uy tín, chất lượng và giá bán”.

 So sánh cấu trúc thị trường lúa gạo Việt Nam với các nước xuất khẩu gạo cũng như xem xét xu hướng của ngành nông nghiệp thế giới, nghiên cứu của Liên minh Nông nghiệp chỉ ra rằng, trong những năm tới, sự gia tăng mạnh mẽ nguồn cung gạo chất lượng trung bình và thấp từ các nước Ấn Độ, Myanmar và Campuchia sẽ khiến thị phần xuất khẩu gạo của Việt Nam bị cạnh tranh khốc liệt, giá lúa nhiều khả năng tiếp tục sụt giảm./.

Nguồn: Theo Xuân Thân/VOV.VN



Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More