Chương trình theo dõi lúa ĐB sông Hồng

Ứng dụng công nghệ viễn thám đa thời gian trong công tác theo dõi lúa trên toàn vùng đồng bằng sông Hồng. Báo cáo hàng tháng được trình lên Bộ trưởng Bộ NN và PTNT.

Sử dụng tư liệu ảnh vệ tinh độ phân giải cao về thời gian

Tư liệu ảnh vệ tinh MODIS độ phân giải 250m chụp hàng ngày được thu nhận và xử lý tạo các tổ hợp 8 và 16 ngày phục vụ công tác nghiên cứu.

Nghiên cứu hạn hán hoặc ngập lụt

Bên cạnh công tác theo dõi lúa, chương trình cũng theo dõi các thảm họa thiên nhiên ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động sản xuất nông nghiệp như hạn hán, ngập lụt...

Theo dõi sâu bệnh

Theo dõi diện tích lúa bị sâu bệnh bằng phương pháp viễn thám, từ đó đưa ra mức độ cảnh báo về năng suất, chất lượng của mùa vụ.

Theo dõi quá trình xâm thực mặn

Phương pháp viễn thám được sử dụng trong công tác theo dõi xâm thực mặn từ biển gây ảnh hưởng đến quá trình canh tác sản xuất nông nghiệp và đời sống người dân...

Báo cáo kết quả trực tuyến

Các báo cáo được đăng tải hàng tháng trên trang web http://theodoilua.blogspot.com cùng bộ bản đồ trực tuyến xây dựng theo công nghệ WebGIS...

Thứ Năm, ngày 29 tháng 1 năm 2015

Giá gạo có xu hướng giảm đến hết năm 2017


Giá lúa gạo toàn cầu có xu hướng giảm kéo dài đến hết năm 2017 do nguồn cung dồi dào, trong đó có yếu tố tồn kho lớn của Thái Lan và họ đang muốn xả hàng. 

 Trọng tâm của Đề án tái cơ cấu ngành lúa gạo phải cải thiện và nâng cao thu nhập người trồng lúa

 Đó là một trong những nhận định về thị trường lúa gạo trong thời gian tới của các chuyên gia Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn (IPSARD) và Cục Trồng trọt tại hội thảo góp ý dự thảo “Đề án tái cơ cấu ngành lúa gạo Việt Nam”, tổ chức ngày 28.1 ở TP.HCM.

Theo đề án trên, dự báo trong 10 năm tới, thế giới sản xuất 530 triệu tấn gạo. Trong khi đó, nhu cầu tiêu thụ gạo chỉ khoảng 500 triệu tấn, nguồn cung sẽ dư nhẹ. Từ nay đến năm 2024, các giao dịch thương mại về gạo toàn cầu tăng khoảng 1,5%. Các thị trường nhập khẩu gạo chính vẫn là châu Phi, Trung Đông và nhiều nhất là Trung Quốc và Indonesia.

 Về giá cả, các loại gạo chất lượng cao sẽ tăng hoặc giữ được giá tốt. Ngược lại gạo thường vẫn giữ xu hướng giảm giá đến hết năm 2017 do nguồn cung dồi dào. Giá gạo thường có thể tăng trở lại sau năm 2018.

Cũng theo đề án tái cơ cấu ngành hàng lúa gạo, Việt Nam sẽ duy trì vị thế xuất khẩu gạo của mình nhưng hướng vào chất lượng, nâng cao hiệu quả cạnh tranh. Yêu cầu của tái cơ cấu phải đảm bảo hài hòa lợi ích của các bên nhất là người nông dân. Để làm được điều này, cần xây dựng các vùng chuyên canh xuất khẩu. Từ đó tăng cường liên kết nông dân và doanh nghiệp nhằm bảo đảm chất lượng đầu vào và đầu ra của sản phẩm. Đó là cơ sở để xây dựng giá xuất khẩu tương đương với giá gạo thế giới ở cùng phân khúc.

Bên cạnh đó là đẩy mạnh công nghiệp chế biến và chế biến sâu các sản phẩm sau gạo cũng như chế biến các phụ phẩm của lúa gạo. Xây dựng các sản phẩm gạo theo từng thị trường cụ thể từ đó gắn với việc xây dựng thương hiệu gạo quốc gia và quốc tế.

 Đối với các vùng chuyên canh chính để xuất khẩu sẽ tăng quy mô sử dụng đất của các hộ dân. Bên cạnh việc chuyên môn hóa nông dân, xây dựng các chính sách hỗ trợ nông dân trở thành những lao động chuyên nghiệp tiến tới sản xuất quy mô lớn.

Về thương mại, đề án tái cơ cấu cho rằng cần tái cấu trúc lại Hiệp hội lương thực Việt Nam (VFA) và các công ty lương thực như: Vinafood 1 và 2. Xây dựng và phát triển các doanh nghiệp tư nhân trong ngành lúa gạo làm ăn có hiệu quả. Một vấn đề quan trọng trong thương mại lúa gạo là cần phải xóa bỏ tình trạng buôn bán tiểu ngạch với Trung Quốc, Lào và Campuchia.

Nhiều đại biểu tham gia góp ý cho đề án này xoay quanh việc cần xác định mục tiêu trọng tâm là nâng cao thu nhập cho người nông dân. Thay đổi tư duy số lượng chuyển sang tư duy về chất lượng. Bảo đảm an ninh lương thực quốc gia trong mọi tình huống nhưng phải bảo đảm thu nhập cho người nông dân. Phát triển các mô hình sản xuất đem lại hiệu quả kinh tế cao dựa vào sự chuyển đổi cây trồng phù hợp...

Nguồn: Theo thanhnien.com.vn



Lộ trình liên kết sản xuất và tiêu thụ thóc, gạo


Bộ Công Thương đã có Quyết định số 606/QĐ-BCT ban hành Lộ trình xây dựng vùng nguyên liệu hoặc thực hiện liên kết sản xuất và tiêu thụ thóc, gạo của thương nhân kinh doanh xuất khẩu gạo giai đoạn 2015 - 2020. 

 3 phương thức xây dựng vùng nguyên liệu 

 Theo đó, thương nhân sẽ có 3 phương thức xây dựng vùng nguyên liệu bao gồm: a- Xây dựng Dự án hoặc Phương án Cánh đồng lớn theo Quyết định 62/2013/QĐ-TTg và Thông tư số 15/2014/TT-BNNPTNT; b- Không xây dựng Dự án hoặc Phương án Cánh đồng lớn mà chỉ ký hợp đồng liên kết sản xuất và tiêu thụ thóc, gạo với hộ nông dân trồng lúa hoặc đại diện của nông dân theo quy định; c- Xây dựng vùng nguyên liệu thuộc quyền quản lý, sử dụng của thương nhân trên diện tích đất sản xuất lúa được Nhà nước giao, cho thuê, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất hoặc thuê đất của các hộ gia đình, tổ chức, cá nhân để sản xuất lúa theo quy định của pháp luật về đất đai.

 Việc xây dựng vùng nguyên liệu trên phải được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt hoặc xác nhận theo quy định.

 Sau khi kết thúc mỗi vụ sản xuất, Sở Công Thương tổng hợp, báo cáo Bộ Công Thương (qua Cục Xuất nhập khẩu), UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Hiệp hội Lương thực Việt Nam tình hình, kết quả xây dựng vùng nguyên liệu và mua thóc, gạo từ vùng nguyên liệu trên địa bàn và của từng thương nhân có vùng nguyên liệu trên địa bàn.

 Quy mô vùng nguyên liệu của thương nhân 

 Quy mô vùng nguyên liệu của thương nhân được phân loại và xác định theo tiêu chí sau: Thương nhân có thành tích xuất khẩu gạo dưới 50.000 tấn gạo/năm thì quy mô vùng nguyên liệu năm đầu tiên là 500 ha; từ năm thứ 2 trở đi mỗi năm tăng thêm 300 ha.

 Nếu thương nhân có thành tích xuất khẩu gạo từ 50.000 - 100.000 tấn gạo/năm, quy mô vùng nguyên liệu năm đầu tiên là 800 ha; từ năm thứ 2 trở đi mỗi năm tăng thêm 500 ha.

 Trường hợp thương nhân có thành tích xuất khẩu gạo từ trên 100.000 - 200.000 tấn gạo/năm, quy mô vùng nguyên liệu năm đầu tiên là 1.200 ha; từ năm thứ 2 trở đi mỗi năm tăng thêm 800 ha. Và với thương nhân có thành tích xuất khẩu gạo từ trên 200.000 tấn gạo/năm thì quy mô vùng nguyên liệu năm đầu tiên là 2.000 ha; từ năm thứ 2 trở đi mỗi năm tăng thêm 1.500 ha.

 Đối với thương nhân mới tham gia kinh doanh xuất khẩu gạo, chưa có thành tích xuất khẩu thì thực hiện theo mức quy định như đối với thương nhân xuất khẩu gạo dưới 50.000 tấn gạo/năm. Thành tích xuất khẩu gạo trong 3 năm đầu của thương nhân mới tham gia kinh doanh xuất khẩu gạo sẽ là cơ sở để Bộ Công Thương xem xét, xác định lại quy mô vùng nguyên liệu của thương nhân theo quy định.

 Quyết định cũng nêu rõ, quy mô ban đầu và lộ trình tăng dần quy mô vùng nguyên liệu của thương nhân giai đoạn 2015 - 2020 được xác định trên cơ sở mức bình quân thành tích xuất khẩu gạo của thương nhân trong 3 năm, từ năm 2011 đến năm 2013.

 Chính sách với thương nhân 

 Ngoài các chính sách quy định tại Nghị định số 210/2013/NĐ-CP, 41/2010/NĐ-CP; Quyết định 62/2013/QĐ-TTg, 68/2013/QĐ-TTg; thương nhân xây dựng vùng nguyên liệu còn được xem xét hỗ trợ thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm, xây dựng thương hiệu gạo; tham gia các Đoàn giao thương, xúc tiến thương mại về gạo trong nước và nước ngoài do Bộ Công Thương tổ chức...

 Bên cạnh đó, thương nhân xây dựng vùng nguyên liệu được hỗ trợ chi phí tham gia bảo hiểm nông nghiệp theo chính sách hiện hành của Nhà nước.

 Thương nhân được vay vốn, hỗ trợ lãi suất khi vay vốn để đầu tư ứng trước tiền mua thóc giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và các khoản đầu tư khác phục vụ sản xuất lúa trong vùng nguyên liệu; mua và tạm trữ thóc, gạo hàng hóa thu hoạch từ vùng nguyên liệu theo hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các cơ quan có thẩm quyền.

 Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/3/2015.

Nguồn: Theo baodientu.chinhphu.vn



Thứ Ba, ngày 27 tháng 1 năm 2015

Thương nhân xuất khẩu gạo phải có vùng nguyên liệu


Trong thời gian tới, thương nhân xuất khẩu phải có vùng nguyên liệu tương ứng với lượng gạo xuất khẩu trước đó. 

 Đây là một những những quy định được Bộ Công Thương đưa ra trong Quyết định mới ban hành về lộ trình xây dựng vùng nguyên liệu hoặc thực hiện liên kết sản xuất và tiêu thụ lúa, gạo của thương nhân kinh doanh, xuất khẩu gạo giai đoạn 2015-2020.

 Mục đích của quy định này là chia sẻ rủi ro và hài hòa lợi ích giữa thương nhân với nông dân, gắn kết lợi ích với trách nhiệm các bên trong quan hệ liên kết.

 Quyết định có hiệu lực từ 1-3-2015.

 Theo quyết định, quy mô tối thiểu ban đầu và lộ trình tối thiểu tăng dần vùng nguyên liệu của thương nhân giai đoạn 2015-2020 được Bộ Công Thương xác định dựa trên lượng gạo xuất khẩu trong giai đoạn 2011-2013 của từng thương nhân.

 Đối với những thương nhân xuất khẩu gạo dưới 50.000 tấn/năm, trong năm đầu tiên phải xây dựng vùng nguyên liệu là 500 héc ta, từ năm thứ hai trở sẽ tăng thêm 300 héc ta mỗi năm. Thương nhân có lượng gạo xuất khẩu từ 50.000 đến dưới 100.000 tấn gạo/năm, năm đầu làm 800 héc ta, những năm sau mỗi năm tăng thêm 500 héc ta.

 Với những thương nhân xuất khẩu từ trên 100.000 đến dưới 200.000 tấn/năm, năm đầu làm 1.200 héc ta, những năm sau mỗi năm tăng thêm 800 héc ta. Còn thương nhân xuất khẩu từ 200.000 tấn/năm, năm đầu làm 2.000 héc ta và những năm sau tăng thêm 1.500 héc ta.

 Trong quyết định này, Bộ Công Thương cũng đưa ra ba phương thức xây dựng vùng nguyên liệu để thương nhân lựa chọn sao cho phù hợp với điều kiện của doanh nghiệp mình. Theo đó, doanh nghiệp có thể xây dựng dự án hoặc phương án cánh đồng lớn, thứ hai là không xây dựng dự án hoặc phương án cánh đồng lớn mà chỉ ký hợp đồng liên kết sản xuất và tiêu thụ lúa, gạo với hộ nông dân hoặc đại diện của nông dân trồng lúa. Thứ ba là xây dựng vùng nguyên liệu thuộc quyền quản lý, sử dụng của thương nhân trên diện tích đất sản xuất lúa được Nhà nước giao, cho thuê, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất hoặc cho thuê đất của các hộ gia đình, tổ chức, cá nhân để sản xuất lúa.

 Ông Hoàng Lâm, Giám đốc công ty cổ phần Hưng Lâm, An Giang, cho biết, từ nhiều tháng nay, công ty ông đang làm những thủ tục cần thiết để phát triển cánh đồng lớn. Song, điều khó khăn nhất của doanh nghiệp là để đầu tư vào đây phải có nguồn vốn ban đầu khá lớn mà không phải doanh nghiệp nào cũng có để làm.

 Tuy nhiên, theo phía doanh nghiệp xuất khẩu gạo, cũng may là trong quyết định nói trên của Bộ Công Thương không làm khó cho doanh nghiệp vì đưa ra nhiều phương án cho doanh nghiệp lựa chọn. Vì thế, đối với những doanh nghiệp không đủ nguồn lực tài chính để làm cánh đồng lớn sẽ chọn phương án ký hợp đồng tiêu thụ sản phẩm với nông dân thông qua tổ hợp tác, hợp tác xã. Cách này, về lý thuyết có ưu điểm là doanh nghiệp sẽ không lo bị thương lái mua hết lúa vì đã có hợp đồng mua bán với nông dân rồi.

Nguồn: Theo Thời báo kinh tế Sài Gòn



Người Trung Quốc ngày càng chuộng gạo Nhật


Sau sữa bột trẻ em châu Âu và sữa New Zealand, người tiêu dùng Trung Quốc bổ sung gạo Nhật vào danh sách các thực phẩm hàng ngày được ưa chuộng trong bối cảnh lo ngại về an toàn thực phẩm trong nước gia tăng. Dĩ nhiên, giá cả của các mặt hàng nhập ngoại này không hề rẻ. 

 Hãng tin Reuters dẫn thông tin từ Liên minh toàn quốc các hội hợp tác xã nông nghiệp Nhật Bản cho biết, khối lượng gạo mà Trung Quốc nhập từ Nhật trong năm 2014 còn khá khiêm tốn, ở mức 160 tấn. Tuy vậy, con số này đã tăng gấp hơn 3 lần so với năm 2013, phần nào phản ánh niềm tin ngày càng đi xuống của người Trung Quốc đối với mức độ an toàn của các mặt hàng nông sản trong nước.

 “Nông dân sản xuất gạo Trung Quốc thường sử dụng thuộc trừ sâu. Gạo Nhật không nhiễm các kim loại nặng”, Ying Ying, một chủ cửa hàng bắt đầu bán gạo Nhật trên chợ trực tuyến Taobao từ tháng 8 năm ngoái, nói.

 Ô nhiễm từ hoạt động sản xuất công nghiệp đã có ảnh hưởng nặng nề tới đất và nguồn nước của Trung Quốc. Tháng 5/2013, giới chức tỉnh Quảng Đông cho biết, 44% số mẫu gạo được đem xét nghiệm có chứa hàm lượng kim loại độc hại cadmium vượt quá ngưỡng cho phép.

 Một nghiên cứu được Bộ Bảo vệ môi trường Trung Quốc công bố vào tháng 4 năm ngoái ước tính, 16,1% diện tích đất của Trung Quốc bị ô nhiễm. Ở một số nơi của nước này, ô nhiễm đất nặng đến nỗi, nông dân trồng lúa không ăn hạt gạo mà họ làm ra.

 Sau công bố của giới chức Quảng Đông về gạo nhiễm cadium, nhiều người tiêu dùng Trung Quốc bắt đầu xem gạo Thái Lan là sản phẩm thay thế an toàn và có giá cả phải chăng.

 Trong khi đó, gạo Nhật vừa không rẻ, vừa không dễ kiếm ở Trung Quốc. Gạo Nhật do công ty COFCO của Trung Quốc nhập về có giá bán 74 Nhân dân tệ, tương đương khoảng 12 USD/kg trên mạng PinStore. Gạo Trung Quốc có giá chỉ 7,5 Nhân dân tệ/kg.

 Do nhu cầu ngày càng tăng, người tiêu dùng Trung Quốc chuyển sang tìm gạo Nhật trên các trang bán lẻ trực tuyến như Taobao. Trên các trang này, người Trung Quốc có thể mua gạo Nhật trực tiếp từ người bán ở Nhật. Theo Taobao, mới đây, một khách Trung Quốc đã trả tới 1.499 Nhân dân tệ, tương đương 241 USD, để có 5 kg gạo Nhật.

 Mức giá “chát” không khiến nhiều người tiêu dùng Trung Quốc ngần ngại. “Gạo Nhật ngon hơn gạo Trung Quốc nhiều. Rất đáng đồng tiền bát gạo”, một khách mua gạo Nhật nhận xét trên mạng Taobao.

 Để đáp ứng nhu cầu, một số nhà sản xuất gạo Trung Quốc giờ tuyên bố sử dụng thóc giống từ Nhật và quảng cáo rằng sản phẩm của họ an toàn hơn so với gạo sản xuất từ giống nội. Gạo thương hiệu Echizen là một loại gạo như vậy. Tuy nhiên, gạo này được trồng ở Changxing, trung tâm sản xuất pin thuộc tỉnh Triết Giang, nơi đất đai có thể bị ô nhiễm chì và acid.

 Trung Quốc tiêu thụ mỗi năm khoảng 120 triệu tấn gạo. Trong 11 tháng đầu năm 2014, nước này nhập khẩu hơn 2,2 triệu tấn gạo, bao gồm 1,2 triệu tấn từ Việt Nam và 626.000 tấn từ Thái Lan - theo số liệu từ Hải quan Trung Quốc.

 Bộ Nông nghiệp Nhật Bản cho biết, trong 11 tháng đầu năm 2014, nước này xuất khẩu 3.777 tấn gạo. Tuy vậy, Nhật đang tìm cách tăng xuất khẩu gạo sang các nước châu Á như một phần trong nỗ lực đẩy mạnh xuất khẩu nông sản.

 Tuy vậy, đến nay, nhà chức trách Trung Quốc mới chỉ cấp phép cho một công ty Nhật bán gạo đã qua khâu đánh bóng ở nước này. Một số công ty Nhật khác đã xin được cấp phép, nhưng việc cấp phép đã bị đình lại 3 năm nay.

Nguồn: Theo vneconomy.vn



Thứ Hai, ngày 26 tháng 1 năm 2015

Gần 20 tỷ đồng xây dựng vùng lúa chất lượng cao tại Tây Ninh


Một doanh nghiệp của Hàn Quốc vừa quyết định tài trợ gần 20 tỷ đồng để đầu tư, xây dựng Dự án vùng lúa chất lượng cao tại tỉnh Tây Ninh. 

 Theo bản ghi nhớ vừa được ký kết ngày 22/1 giữa Công ty cổ phần Việt Nam Mộc Bài (thuộc Tập đoàn Taekwang của Hàn Quốc) và Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Tây Ninh, phía doanh nghiệp sẽ tài trợ số tiền 19,876 tỷ đồng, giúp tỉnh xây dựng cánh đồng mẫu lớn, sản xuất lúa chất lượng cao (quy mô 240ha) tại vùng sản xuất lúa xã An Thạnh, huyện biên giới Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.

 Theo thỏa thuận giữa hai bên, nguồn kinh phí tài trợ dự kiến sẽ sử dụng vào các hạng mục: Xây đê bao ngăn lũ, hệ thống cống điều tiết nước nội đồng, mua máy gặt đập liên hợp, máy cấy lúa...

 Tỉnh Tây Ninh đầu tư đối ứng 6,440 tỷ đồng để xây nhà kho chứa máy móc, công cụ, xây dựng dự án, rà soát bom mìn...

 Theo ông Nguyễn Thái Sơn, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Tây Ninh, dự án được thực hiện với hình thức đầu tư xây dựng do Sở Nông nghiệp tỉnh chủ trì chuyển giao công nghệ cho Liên minh hợp tác xã tỉnh và Uỷ ban Nhân dân huyện Bến Cầu tiếp nhận.

 Đơn vị được chuyển giao sẽ thành lập hợp tác xã sản xuất bao gồm những nông dân có đất tham gia dự án, thực hiện sản xuất theo quy trình hướng dẫn của các chuyên gia, cán bộ kỹ thuật... nhằm tạo dựng mô hình mẫu sản xuất lúa tiên tiến, hiện đại, đem lại hiệu quả cao nhất cho người trồng lúa.

 Tập đoàn Taekwang (Hàn Quốc) là doanh nghiệp có vốn đầu tư lớn ở Việt Nam. Tại Tây Ninh, năm 2010 Taekwang đã đầu tư một nhà máy sản xuất giày thể thao (nhãn hiệu Nike) với công suất 10 triệu đôi/năm tuyển dụng 15.000 lao động tại Khu kinh tế cửa khẩu Mộc Bài.

 Tại đây, doanh nghiệp cũng đang xây dựng khu công nghiệp dệt may quy mô 100ha, đồng thời dự kiến sẽ thuê đất xây dựng vùng sản xuất rau công nghệ cao, quy mô trên 20ha tại xã Phước Ninh, huyện Dương Minh Châu của tỉnh Tây Ninh./.

Nguồn: Theo vietnamplus.vn



Ấn định quy mô vùng nguyên liệu cho thương nhân xuất khẩu gạo



Bộ Công Thương vừa ban hành lộ trình xây dựng vùng nguyên liệu hoặc thực hiện liên kết sản xuất và tiêu thụ thóc, gạo của thương nhân kinh doanh xuất khẩu gạo giai đoạn 2015 - 2020. 

 Theo đó, thương nhân có thể xây dựng hoặc không xây dựng dự án hoặc phương án cánh đồng lớn nhưng việc xây dựng vùng nguyên liệu phải được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt hay xác nhận.

 Quy mô, lộ trình xây dựng vùng nguyên liệu của thương nhân cũng được Bộ Công Thương ấn định.

 Cụ thể, thương nhân có thành tích xuất khẩu gạo dưới 50.000 tấn gạo/năm thì quy mô vùng nguyên liệu năm đầu tiên là 500ha, từ năm thứ hai trở đi mỗi năm tăng thêm 300 ha.

 Các con số tương tự dành cho thương nhân có mức xuất khẩu từ 50.000 đến 100.000 tấn gạo/năm là 800 ha và 500ha. Với mức trên 100.000 tấn một năm thì quy mô vùng nguyên liệu năm đầu tiên là 1.200 ha và từ năm thứ hai trở đi mỗi năm tăng thêm 800 ha.

 Năm đầu tiên là 2.000 ha và từ năm thứ hai trở đi mỗi năm tăng thêm 1.500 ha là quy mô vùng nguyên liệu cho thương nhân xuất khẩu gạo từ trên 200.000 tấn/năm, cũng là mức cuối cùng tại quy định này.

 Các quy mô nói trên được xác định trên cơ sở mức bình quân thành tích xuất khẩu gạo của thương nhân trong 3 năm 2011 - 2013.

 Bộ Công Thương cũng khuyến khích thương nhân đầu tư xây dựng vùng nguyên liệu ổn định trong tất cả các vụ sản xuất chính trong năm và đầu tư xây dựng vùng nguyên liệu lớn hơn mức tối thiểu nêu trên.

 Thương nhân xây dựng vùng nguyên liệu cũng sẽ được hưởng nhiều ưu đãi, hỗ trợ, trong đó có chi phí tham gia bảo hiểm nông nghiệp, được vay vốn, hỗ trợ lãi suất khi vay vốn để đầu tư ứng trước tiền mua thóc giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và các khoản đầu tư khác phục vụ sản xuất lúa trong vùng nguyên liệu.

 Những quy định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/3/2015.

Nguồn: Theo vneconomy.vn



“Tăng lực” cho xuất khẩu gạo


Thị trường khó khăn khi phải cạnh tranh gay gắt với gạo của các quốc gia khác, nguồn vốn eo hẹp… đó là những khó khăn mà xuất khẩu gạo phải đối diện trong năm 2015.

Gạo xuất khẩu Việt Nam hướng tới các thị trường tiềm năng 

Còn nhiều khó khăn 

Tình hình xuất khẩu gạo năm 2015 được nhận định sẽ tiếp tục gặp nhiều khó khăn bởi Thái Lan- một trong những “đối thủ” chính của Việt Nam vẫn sẽ đẩy mạnh triển khai các giải pháp nhằm tiêu thụ gạo. Đặc biệt, không những tập trung vào sản phẩm gạo thơm- phân khúc gạo thơm cao cấp truyền thống, những năm gần đây, Thái Lan đã chuyển hướng sang gạo thơm giá trung bình- dòng sản phẩm chủ lực của Việt Nam. Đây thực sự là thách thức lớn đối với gạo xuất khẩu của Việt Nam.

Thời gian qua, Ấn Độ nổi lên là một trong những nước xuất khẩu gạo hàng đầu trên thế giới. Trong niên vụ 2013 - 2014, sản lượng lúa gạo của Ấn Độ đã đạt mức kỷ lục với 106,54 triệu tấn. Để tiêu thụ tốt lượng gạo này, Ấn Độ đang đưa ra nhiều chính sách nhằm đẩy mạnh xuất khẩu trong năm 2015. Đặc biệt, Ấn Độ đang giảm giá mạnh đối với phân khúc gạo cấp trung bình và thấp để cạnh tranh với Việt Nam.

Tại Hội nghị tổng kết năm 2014 của Bộ Công Thương mới đây, Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) - cho biết, hiện nay, khó khăn lớn nhất với các doanh nghiệp (DN) xuất khẩu gạo là vốn. “Về năng lực tài chính, các DN xuất khẩu gạo hầu như không đủ vốn, chủ yếu dựa vào vốn vay ngân hàng. Trong 144 thương nhân xuất khẩu gạo, chỉ khoảng 20% thương nhân có năng lực tài chính tương đối, còn lại 80% thương nhân ở mức trung bình và yếu”- đại diện VFA cho hay.

Bên cạnh những bản ghi nhớ về thương mại gạo đã được ký kết trong thời gian trước, năm 2015, Bộ Công Thương cũng sẽ tập trung đàm phán và ký Bản ghi nhớ (MOU) về thương mại gạo với các quốc gia tiềm năng khác như: Congo, Kenya, Angola, Mozambique, Madagascar... nhằm tạo cơ hội đẩy mạnh xuất khẩu gạo sang các quốc gia này. 

Gỡ khó cho xuất khẩu gạo 

Để hoàn thành mục tiêu xuất khẩu gạo năm 2015, với các khó khăn về vốn, VFA đã đề xuất với Chính phủ cho phép các DN xuất khẩu gạo được vay vốn với lãi suất ưu đãi. Đồng thời, các khoản vay lưu động ngắn hạn để đầu tư hệ thống kho tàng và hệ thống chế biến trước đó cũng được đề xuất chuyển sang vay trung dài hạn nhằm cải thiện năng lực tài chính của DN.

 Đối với các khó khăn về thị trường, Bộ Công Thương cho biết, trong năm 2015, bên cạnh việc tập trung vào các thị trường chính như Philippines, Malaysia, Trung Quốc, Việt Nam sẽ đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng gạo sang thị trường châu Phi- một trong những thị trường rất tiềm năng của gạo Việt.

Để chuẩn bị tốt cho việc này, nhiều biện pháp hỗ trợ DN xuất khẩu sang thị trường châu Phi sẽ được đẩy mạnh triển khai như hỗ trợ DN thành lập DN, mở kho ngoại quan gạo tại một số thị trường trọng điểm như Cameroon, Angola, Mozambique... để tiêu thụ gạo trực tiếp. Đồng thời, Bộ Công Thương cũng sẽ triển khai nhiều đề án như Đề án đổi gạo Việt Nam lấy điều châu Phi, Đề án đẩy mạnh xuất khẩu gạo sang thị trường châu Phi…

Mặc dù có nhiều tiềm năng nhưng thị trường châu Phi cũng được nhận định là khá rủi ro do khoảng cách địa lý cũng như thiếu thông tin về đối tác. Nhằm giảm thiểu khó khăn này, Bộ Công Thương sẽ tiếp tục phối hợp với VCCI, Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ (OIF) và Trung tâm Thương mại quốc tế (ITC) để thiết lập quan hệ giữa các ngân hàng thương mại Việt Nam và châu Phi, tạo điều kiện cho hoạt động kinh doanh và bảo đảm an toàn trong thanh toán xuất nhập khẩu... Các cuộc giao thương giữa DN hai bên cũng sẽ được đẩy mạnh triển khai, nhằm cung cấp thông tin, tránh những rủi ro trong giao dịch xuất khẩu.

Nguồn: Theo Báo Công thương



Thứ Sáu, ngày 23 tháng 1 năm 2015

"Vựa lúa" Đông Nam Á sẽ suy kiệt vì biến đổi khí hậu


Giới phân tích Singapore đã lên tiếng cảnh báo khu vực Đông Nam Á hãy sẵn sàng đón nhận cuộc khủng hoảng ngành sản xuất lương thực trong tương lai gần. Vì sao?

Khu vực này có đến 2 quốc gia xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, trong đó Thái Lan và Việt Nam chiếm hơn 1/2 lượng gạo xuất ra toàn cầu. Indonesia và Philippines cũng sản xuất một lượng đáng kể phục vụ nhu cầu trong nước.

 Các nhà phân tích cho rằng sự kiện hoàn hảo về sự sụp đổ của ngành công nghiệp thực phẩm vì khí hậu khắc nghiệt chính là câu chuyện của trung tâm sản xuất lúa gạo Úc - vùng Riverina miền nam New South Wales.

 Bắt đầu từ những năm 1920 và nhanh chóng phát triển trong thập niên 1950-1960, ngành công nghiệp lúa gạo của Úc nhanh chóng đem lại lợi nhuận khổng lồ. Hiệp hội trồng lúa Úc từng báo cáo sản xuất hơn 1 triệu tấn gạo và xuất khẩu sang hơn 70 quốc gia, ghi nhận doanh thu xuất khẩu 500-600 triệu USD/năm từ cuối thập niên 1980 đến năm 2001.
 Tuy nhiên, trong giai đoạn 2007-2008, sản xuất lúa gạo của Úc đã giảm từ mức trung bình 1,3 triệu tấn hàng năm còn gần 19.000 tấn. Những đợt hạn hán dai dẳng từ năm 2003 đã khiến ngành công nghiệp này trôi vào quên lãng. Dù vậy cuộc khủng hoảng lúa gạo Riverina không tác động quá lớn đến an ninh lương thực của Úc, vì nước này có nền kinh tế vững mạnh.

 Tương tự, xuất khẩu gạo của châu Á cũng đang rơi vào tình trạng suy yếu dần như Úc. Tình trạng ở Riverina đã phác họa thực tế một khi cây lúa chạm đến giới hạn nhiệt của mình do biến đổi khí hậu, thì mọi biện pháp thích ứng tốt nhất và công nghệ đỉnh cao cũng "vô phương cứu chữa".

 Khu vực Đông Nam Á đang trải qua thời kỳ lũ lụt liên tiếp. Philippines gánh chịu trung bình 20 cơn bão mỗi năm - so với cả 2 đồng bằng Sông Cửu Long và sông Hồng của Việt Nam chỉ có 6-9 cơn bão.

 Gần đây nhất là cơn bão Hagupit cuối năm 2014 quét qua Philippines để lại thiệt hại lớn cho cây trồng ở tỉnh Samar.

 Trước đó là bão Haiyan 2013 phá hủy 170.000 tấn lúa chuẩn bị thu hoạch, lũ lụt Thái Lan 2011 gây thất thoát 700.000 ha ruộng lúa - tương đương ít nhất 500 triệu USD bị cuốn trôi.

 Năm 2008, bão Cyclone Nargis làm tổn thương 24% diện tích trồng lúa của Myanmar, giết chết 50-75% vật nuôi trong hầu hết vùng bị ảnh hưởng.

 Giới chuyên gia cảnh báo nếu không thích ứng khôn ngoan, ngành sản xuất lúa gạo của Việt Nam có thể thất thoát 3 triệu tấn - gấp 10 lần lượng nhập khẩu hàng năm của Singapore trong nhiều thập kỷ tới vì lũ quét.

 Những nghiên cứu tác động của khí hậu cho thấy phần lớn vùng hạ lưu sông Mekong - nơi trồng lúa chính của Thái Lan, Lào và Việt Nam - sẽ bị ngập do hiện tượng mực nước biển dâng cao.

 Tần suất và cường độ lũ cao hơn là một vấn đề nghiêm trọng đối với hệ tống hạ tầng thủy lợi dễ tổn thương của Indonesia, vì hầu hết chúng được xây dựng mà không tính đến yếu tố biến đổi khí hậu.

 Lượng mưa và nhiệt độ thay đổi cũng gây thất thoát sản lượng sau thu hoạch, do thiếu công nghệ sấy khô và bảo quản phù hợp theo thời tiết.

Nguồn: Theo tuoitre.vn



Thứ Năm, ngày 22 tháng 1 năm 2015

Xuất khẩu gạo tiểu ngạch sang Trung Quốc lên tới 2 triệu tấn


Năm 2013, tổng lượng gạo xuất khẩu tiểu ngạch sang Trung Quốc chỉ vào khoảng 1,5 triệu tấn, còn năm 2014 con số đó là 2 triệu tấn, tăng 500.000 tấn. 

 Theo số liệu chính thức của Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), trong năm 2014, xuất khẩu gạo qua biên giới

Trung Quốc có đăng ký hợp đồng chỉ vào khoảng 650.000 tấn, nhưng thực tế số lượng gạo chuyển từ Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) ra Bắc qua cảng Hải Phòng lớn hơn nhiều, khoảng 2 triệu tấn và chủ yếu là để xuất khẩu qua biên giới. Đây là con số cao gấp 2 lần so với con số mà ông Nguyễn Hùng Linh, Chủ tịch VFA ước đoán trong lần trả lời phỏng vấn Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online vào ngày 30-12-2014.

 Báo cáo của VFA cho biết, mặc dù, số liệu thống kê xuất khẩu chính thức của năm 2014 là hơn 6,3 triệu tấn gạo, giá trị thu về gần 3 tỉ đô la Mỹ; nhưng trên thực tế, Việt Nam đã tiêu thụ hết lượng gạo hàng hóa nhờ xuất khẩu gạo qua biên giới Trung Quốc tăng mạnh.

 Theo VFA, châu Á vẫn là thị trường xuất khẩu gạo chính của Việt Nam khi chiếm gần 76% tổng lượng gạo xuất khẩu, tiếp đến là châu Phi với gần 13%, châu Mỹ là hơn 7,5% tổng lượng gạo xuất khẩu của cả năm 2014, theo đường chính ngạch. Những thị trường nhập khẩu gạo lớn của Việt Nam là Trung Quốc, Philippines, Châu Phi, Malaysia, Indonesia, Cuba và Hồng Kông.

 Giá gạo FOB (giao tại mạn tàu) xuất khẩu trong năm 2014 biến động trong khoảng 380-465 đô la Mỹ/tấn loại 5% tấm, cao hơn so với năm trước. Năm 2013, giá gạo FOB dao động ở mức 365-420 đô la Mỹ/tấn loại 5% tấm. Trong số hơn 6,3 triệu tấn gạo xuất khẩu, chiếm phần lớn là gạo cấp trung bình với gần 32%, còn gạo cấp thấp là hơn 21%, gạo cấp cao gần 21% tổng lượng gạo xuất khẩu, còn lại là các loại nếp, tấm, gạo đồ.

 Theo VFA, năm 2014, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam luôn cao hơn giá gạo của Thái Lan khoảng từ 30-35 đô la Mỹ/tấn. Trong các loại gạo xuất khẩu của Việt Nam, gạo Jasmine có giá bán cao nhất là 620 đô la Mỹ/tấn.

Nguồn: Theo Thời báo kinh tế Sài Gòn



Cà Mau mở rộng mô hình sản xuất lúa kết hợp với nuôi cá đồng


Ông Lê Văn Sử, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Cà Mau, cho biết từ 20.000ha sản xuất thử nghiệm năm 2010 đến nay cho hiệu quả cao, tỉnh quyết định nhân rộng mô hình sản xuất lúa kết hợp với nuôi cá đồng. 

 Dự kiến, mùa vụ năm 2015 diện tích sản xuất lúa-cá của toàn tỉnh tăng gấp đôi, lên 40.000ha.

 Bên cạnh đó, tỉnh sẽ quy hoạch giai đoạn 2016-2020, phấn đấu diện tích sản xuất lúa-cá đến cuối năm 2020 từ 80.000-100.000ha.

 Tuy nhiên, sản xuất theo mô hình lúa-cá chỉ tập trung ở vùng quy hoạch ngọt hóa như vùng U Minh Hạ với ba huyện Trần Văn Thời, Thới Bình và U Minh.

 Vùng sản xuất nông nghiệp của tỉnh Cà Mau trước năm 2000 chủ yếu là trồng lúa với nuôi cá đồng, nhưng kể từ năm 2000 trở lại đây địa phương đã dành 300.000ha từ sản xuất lúa sang nuôi tôm.

 Diện tích trồng lúa từ 450.000ha bị thu hẹp lại nay còn 150.000ha. Có một thời gian dài bà con nông dân vùng ngọt hóa nhưng không thích trồng lúa vì muốn nuôi tôm.

 Chính quyền địa phương đã kiên trì thuyết phục nhiều năm bà con mới nhận thức được, từ đó bắt tay vào sản xuất. Lúc đầu chỉ trồng lúa, sau đó khôi phục lại nghề nuôi cá đồng bằng phương pháp thả cá đồng trên ruộng lúa, từ đó hiệu quả kinh tế tăng gấp đôi.

 Ông Nguyễn Văn Tấn, nông dân ở xã Khánh Bình, huyện Trần Văn Thời, cho biết gia đình ông có 2ha đất, nếu chỉ sản xuất lúa, sau khi trừ chi phí một năm chỉ lãi từ 50-70 triệu đồng. Kể từ khi kết hợp với nuôi cá đồng, cũng chừng ấy diện tích nhưng thu lãi một năm 150 triệu đồng.

 Đặc biệt, trồng lúa kết hợp với nuôi cá đồng không chỉ cho hiệu quả kinh tế bền vững, mà còn không gây ô nhiễm môi trường, không bị rủi ro như nuôi tôm.

 Nếu như sản xuất lúa cần chi phí giống và phân bón thì nuôi cá đồng không tốn bất cứ khoản chi phí nào. Vào mùa khô từ tháng 12 đến tháng 5 là mùa thu hoạch cá đồng, khi đó người ta chỉ bắt cá to bán cho thương lái, còn cá nhỏ nuôi tiếp.

 Khi thả nuôi cá tự tìm thức ăn trên ruộng lúa, gọi là cá đồng tự nhiên. Có ba loại cá đồng được người dân thả nuôi phổ biến nhất là cá lóc, giá thị trường hiện nay 130.000 đồng/kg; cá rô120.000 đồng/kg; cá bổi 80.000 đồng/kg./.

Nguồn: Theo vietnamplus.vn



Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More