Chương trình theo dõi lúa ĐB sông Hồng

Ứng dụng công nghệ viễn thám đa thời gian trong công tác theo dõi lúa trên toàn vùng đồng bằng sông Hồng. Báo cáo hàng tháng được trình lên Bộ trưởng Bộ NN và PTNT.

Sử dụng tư liệu ảnh vệ tinh độ phân giải cao về thời gian

Tư liệu ảnh vệ tinh MODIS độ phân giải 250m chụp hàng ngày được thu nhận và xử lý tạo các tổ hợp 8 và 16 ngày phục vụ công tác nghiên cứu.

Nghiên cứu hạn hán hoặc ngập lụt

Bên cạnh công tác theo dõi lúa, chương trình cũng theo dõi các thảm họa thiên nhiên ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động sản xuất nông nghiệp như hạn hán, ngập lụt...

Theo dõi sâu bệnh

Theo dõi diện tích lúa bị sâu bệnh bằng phương pháp viễn thám, từ đó đưa ra mức độ cảnh báo về năng suất, chất lượng của mùa vụ.

Theo dõi quá trình xâm thực mặn

Phương pháp viễn thám được sử dụng trong công tác theo dõi xâm thực mặn từ biển gây ảnh hưởng đến quá trình canh tác sản xuất nông nghiệp và đời sống người dân...

Báo cáo kết quả trực tuyến

Các báo cáo được đăng tải hàng tháng trên trang web http://theodoilua.blogspot.com cùng bộ bản đồ trực tuyến xây dựng theo công nghệ WebGIS...

Thứ Tư, ngày 24 tháng 6 năm 2015

Giá gạo sẽ còn giảm đến hết tháng 6


Nguyên nhân do nhu cầu từ các thị trường nhập khẩu không cao. Giá thóc gạo trong nước tiếp tục ổn định do nhu cầu trong nước không có biến động lớn.

So với cùng kỳ tháng 5/2015, giá chào bán các loại gạo xuất khẩu (giá FOB) 15 ngày đầu tháng 6/2015 tại Thái Lan và Việt Nam đều giảm.

 Tại Thái Lan, loại gạo 5% tấm giá ở mức 370-385 USD/tấn, giảm khoảng 10-15 USD/tấn; loại 25% tấm giá ở mức khoảng 368 – 370 USD/tấn, giảm khoảng 15 USD/tấn. Giá chào bán gạo của Việt Nam, loại 5% tấm dao động ở mức 345-360 USD/tấn, giảm khoảng 5-10 USD/tấn, loại 25% tấm dao động ở mức 325-350 USD/tấn, giảm khoảng 5 USD/tấn.

 Thị trường trong nước, tại miền Bắc, giá thóc, gạo tẻ thường tiếp tục ổn định so với cùng kỳ tháng 5/2015. Giá thóc tẻ thường dao động phổ biến ở mức 6.000-6.500 đồng/kg, giá một số loại thóc chất lượng cao hơn phổ biến ở mức 7.500-8.500 đồng/kg, giá gạo tẻ thường dao động phổ biến ở mức 8.000-13.000 đồng/kg.

 Tại miền Nam, giá lúa, gạo 15 ngày đầu tháng 6/2015 nhìn chung ổn định so với cùng kỳ tháng 5/2015: Giá lúa dao động ở mức 4.700-5.350 đồng/kg ; gạo thành phẩm xuất khẩu loại 5% tấm giá trong khoảng 7.200-7.400 đồng/kg; loại 25% tấm giá ở mức 6.800-6.950 đồng/kg.

 Nguyên nhân: Giá chào bán gạo xuất khẩu tiếp tục giảm do nhu cầu từ các thị trường nhập khẩu không cao. Giá thóc gạo trong nước tiếp tục ổn định do nhu cầu trong nước không có biến động lớn.

 Dự báo, giá chào bán gạo thế giới và trong nước có khả năng tiếp tục xu hướng giảm đến cuối tháng
6/2015.

Nguồn: Theo baohatinh.vn



Trúng thầu bán 100.000 tấn gạo cho Philippines


Đúng như dự báo của các doanh nghiệp, sau khi được sự đồng ý từ cấp trên, Cơ quan quan lương thực quốc gia Philippines (NFA) đã chính thức quyết định nhập khẩu thêm 100.000 tấn gạo loại 25% từ Việt Nam. 

 Trao đổi với Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online hôm 22-6, giám đốc một doanh nghiệp xuất khẩu gạo lớn ở Đồng bằng Sông Cửu Long (yêu cầu không nêu tên) đã xác nhận thông tin này và cho biết giá trúng thầu chính xác là 416,85 đô la Mỹ/tấn (giao tại kho NFA), chứ không phải 416 đô la Mỹ/tấn như đã thông tin trước đó.

 Trong phiên mở thầu hôm 16-6 vừa qua, đoàn doanh nghiệp Việt Nam đã đưa ra mức giá dự thầu là 417 đô la Mỹ/tấn để bán 100.000 tấn gạo cho Philippines, nhưng mức giá này cao hơn dự kiến ngân sách được NFA đưa ra là 408,14 đô la Mỹ/tấn nên đã bị loại.

 Tuy nhiên, sau đó NFA quyết định cho ba đơn vị dự thầu, gồm Việt Nam, Thái Lan và Campuchia chào giá lại, nhưng Thái Lan đã bỏ cuộc và chỉ có Việt Nam đưa ra mức giá có lợi nhất cho NFA nên đã trúng thầu như đã nêu ở trên (dù giá trúng thầu vẫn cao hơn dự kiến ngân sách được NFA đưa ra là 408,14 đô la Mỹ/tấn).

 Theo tìm hiểu của Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online, 100.000 gạo Việt Nam thắng thầu lần này là một phần của hợp đồng chào mua 250.000 tấn được NFA mở thầu hôm 5-6-2015.

 Với việc nhập khẩu thêm 100.000 tấn gạo lần này, từ đầu năm đến nay Philippines đã nhập khẩu tổng cộng 750.000 tấn gạo theo thỏa thuận liên Chính phủ (G2G), trong đó nhập từ Việt Nam 550.000 tấn và từ Thái Lan 200.000 tấn.

 Còn theo Hiệp hội lương thực Việt Nam (VFA), tính đến nay, tổng khối lượng hợp đồng xuất khẩu gạo được doanh nghiệp hội viên của đơn vị này đăng ký (bao gồm cả hợp đồng tập trung và hợp đồng thương mại) đạt khoảng 3,6 triệu tấn, giảm khoảng 8% so với cùng kỳ năm ngoái.

Nguồn: Theo Thời Báo kinh tế Sài Gòn



Xuất khẩu gạo Việt Nam và Thái Lan: Cạnh tranh hay hợp tác?


Philippines có vẻ như đang lợi dụng sự cạnh tranh giữa Việt Nam và Thái Lan trong hoạt động xuất khẩu gạo để “ép giá”, nhằm mua được gạo với giá rẻ nhất. Đã đến lúc các nhà xuất khẩu gạo Việt Nam và Thái Lan phải ngồi lại với nhau và bàn phương cách hợp tác thay vì chỉ cạnh tranh với nhau. 

 Lâu lâu Philippines lại đăng tin không nhập khẩu gạo vì sản xuất đủ rồi, thế là Việt Nam lo sốt vó, có người bi quan cho rằng việc xuất khẩu gạo gặp khó khăn to lớn, có thể làm sụp đổ thị trường gạo của Việt Nam. Thế nhưng, bán gạo cho Philippines kiểu đấu thầu có giá trần thì không bán có khi lại tốt hơn.

 Mua gạo kiểu Philippines 

 Muốn bán gạo cho Philippines, các nước xuất khẩu gạo (chủ yếu là Việt Nam và Thái Lan) phải qua Philippines dự thầu. Philippines tổ chức đấu thầu nhưng đưa ra “giá trần” còn gọi là giá tham chiếu. Việt Nam và Thái Lan muốn thắng thầu, không những phải bỏ thầu giá thấp nhất mà còn phải thấp hơn giá trần mà Philippines đưa ra.

 “Cả Việt Nam lẫn đối thủ chính là Thái Lan trong cuộc đấu thầu bán 250.000 tấn gạo cho Philippines đều bỏ giá cao trong buổi mở thầu hôm nay (5-6) trong khi Philippines đưa ra giá mua khá thấp, chỉ 340 đô la Mỹ mỗi tấn gạo trắng hạt dài loại 25% tấm.” (Đấu thầu bán gạo cho Philippines: cả VN và Thái Lan đều bỏ giá cao, TBKTSG Online 5-6-2015)

 Mới đây, trong đợt đấu thầu 100.000 tấn gạo ngày 16-6, Việt Nam bỏ thầu thấp nhất là 416 đô la Mỹ/ tấn nhưng vẫn trượt thầu vì giá trần Philippines đưa ra chỉ có 408,14 đô la Mỹ/ tấn. Nếu các nước đấu thầu bỏ thầu cao hơn giá trần, Philippines sẽ loại tất cả, sau đó tổ chức đấu thầu lại, hoặc bàn riêng với từng nước, nước nào đồng ý giảm giá bằng hoặc dưới giá trần thì trúng thầu.

 “Việt Nam đã có được hợp đồng bán 150.000 tấn gạo cho Philippines trong phiên mở thầu hôm 5-6 sau khi đồng ý giảm giá bán theo thỏa hiệp với Cơ quan Lương thực quốc gia Philippines (NFA)”. (Việt Nam trúng thầu bán 150.000 tấn gạo cho Philippines, TBKTSG Online 6-6-2015)

 “Cũng theo tìm hiểu của TBKTSG Online, cuối tháng 2-2015 vừa qua, Việt Nam đã giành được hợp đồng cung cấp 300.000 tấn gạo trắng hạt dài cho Philippines theo thỏa thuận G2G, sau khi đồng ý giảm giá xuống ngang bằng với mức giá trúng thầu (200.000 tấn) của Thái Lan.”. (TBKTSG Online, 5-6-2015)

 Đấu thầu, nhưng giá phải thấp hơn giá trần hay giá tham chiếu mà Cơ quan lương thực quốc gia Philippines NFA đưa ra có nghĩa là Philippines luôn nắm quyền ấn định giá gạo.

 Khi Philippines ấn định giá gạo, Việt Nam và Thái Lan phải cạnh tranh hạ giá gạo theo ý của Philippines, thực tế nhiều năm nay là giá gạo 25% tấm luôn bị khống chế xoay quanh mức 340 đô la Mỹ/ tấn. Nên biết, đây là mức giá sát với giá thành sản xuất lúa gạo.

 Mỗi năm, Philippines mua khoảng 1,8 triệu tấn gạo, chiếm khoảng 10% lượng gạo xuất khẩu của hai nước Việt Nam và Thái Lan. Nếu không bán cho Philippines, chia điều ra mỗi năm Việt Nam và Thái Lan tồn kho thêm khoảng gần 1 triệu tấn gạo mỗi nước, điều này không có gì lớn.

 Việt Nam và Thái Lan bán cho Philippines 1,8 triệu tấn gạo mỗi năm nhưng để cho Philippines ép giá gạo, rồi các nước nhập khẩu dùng giá này để đàm phán mua gạo, tức là Việt Nam và Thái Lan sẽ phải bán gạo giá thấp cho cả 18 triệu tấn gạo, ở mức giá 340 đô la Mỹ/ tấn cho loại gạo 25% tấm.

Tại sao Việt Nam và Thái Lan không hợp tác bán gạo xuất khẩu? 

Không hợp tác để lấy lại quyền ấn định giá gạo xuất khẩu, để cho Philippines và các nước nhập khẩu ép giá gạo đến sát giá thành, mọi chính sách phát triển sản xuất lúa gạo kể cả tái cơ cấu việc sản xuất lúa gạo đều trở thành vô nghĩa. 

 Philippines buộc Việt Nam và Thái Lan cạnh tranh với nhau để bán gạo giá thấp cho mình, vậy tại sao Việt Nam và Thái Lan không hợp tác bán gạo với nhau để không cho Philippines ép giá?

 Tại sao Việt Nam và Thái Lan không hợp tác để lấy lại quyền ấn định giá bán gạo?

 Khối OPEC trên 10 quốc gia, chỉ chiếm khoảng 50% sản lượng dầu mỏ thế giới, vậy mà khối OPEC nắm quyền ấn định giá dầu thế giới.

 Việt Nam và Thái Lan là hai quốc gia chiếm đến khoảng trên 50% thị trường gạo thế giới, cho nên nếu hợp tác, Việt Nam và Thái Lan không những có thể lấy lại quyền ấn định giá gạo từ Phillippines, mà còn có thể nắm quyền ấn định giá gạo thế giới.

 Vì vậy, tốt nhất là thành lập Hiệp hội Các quốc gia xuất khẩu gạo (OREC) theo cách của khối OPEC, trong đó Việt Nam và Thái Lan là nòng cốt.

 Việc hợp tác xuất khẩu gạo là giải pháp duy nhất của nền sản xuất lúa gạo của Việt Nam và Thái Lan, và đó cũng là cách duy nhất để bảo vệ quyền lợi của nông dân hai nước Việt Nam và Thái Lan.

 Không hợp tác để lấy lại quyền ấn định giá gạo xuất khẩu, để cho Philippines và các nước nhập khẩu gạo ép giá gạo đến sát giá thành, mọi chính sách phát triển sản xuất lúa gạo kể cả tái cơ cấu việc sản xuất lúa gạo sẽ trở thành vô nghĩa.

Nguồn: Theo Thời Báo kinh tế Sài Gòn



Sản lượng gạo Việt Nam xuất khẩu liên tục giảm


Trong nửa đầu năm 2015, sản lượng xuất khẩu đã tiếp tục giảm hơn 30% so với cùng kỳ. Lượng xuất khẩu thấp, giá giảm, sức ép cạnh tranh của hạt gạo Việt Nam ngày càng lớn.

 Theo số liệu của Hiệp hội Lương thực Việt Nam VFA, tính từ đầu năm đến nay, xuất khẩu gạo của Việt Nam chỉ đạt hơn 2 triệu tấn, giảm gần 30% so với cùng kỳ năm 2014. Giá xuất khẩu bình quân tính đến thời điểm hiện nay cũng chỉ đạt 421 USD/tấn, giảm 2,3% so với cùng kỳ năm ngoái.

 Xuất khẩu gạo giảm mạnh một phần là do những thị trường lớn đang hướng dần đến tự chủ về lương thực nên nhu cầu nhập gạo ít đi, như Indonesia hầu như chưa có đơn hàng nào được đặt trong năm nay.

 Bên cạnh đó, các nước như Thái Lan, Ấn Độ, Parkistan... đang cung ứng ra thị trường lượng gạo rất dồi dào, các sản phẩm phân khúc cũng rất đa dạng với giá cả cạnh tranh.

 Bên cạnh đó, Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam VFA cho biết, một nguyên nhân sâu xa nữa là gạo Việt Nam phần lớn có chất lượng thấp.

 Hiện VFA kỳ vọng sản lượng xuất khẩu thêm trong tháng 6/2015 sẽ được 600.000 tấn gạo, bằng 80% sản lượng năm 2014. Trước thực tế này, VFA cũng không mạnh dạn đưa ra dự báo cho nửa cuối còn lại của năm 2015.

Nguồn: Theo vtv.vn



Thứ Hai, ngày 22 tháng 6 năm 2015

Xuất khẩu gạo phẩm cấp thấp: Cảnh báo 'sập bẫy' Trung Quốc


Thị trường xuất khẩu gạo trong thế bế tắc và vẫn dựa chủ yếu vào Trung Quốc. Các chuyên gia cảnh báo, Việt Nam đang rơi vào “bẫy” gạo phẩm cấp thấp của Trung Quốc. 

Xuất khẩu gạo bế tắc, khiến giá thu mua lúa cho nông dân cũng giảm. 

Xuất khẩu bế tắc, giá lúa gạo giảm 

 Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), đến hết tháng 5/2015, xuất khẩu gạo Việt Nam đạt trên 2,1 triệu tấn, thu về hơn 870 triệu USD (giảm trên 10% về lượng, 13% trị giá so cùng kỳ năm 2014). Lãnh đạo VFA cho biết, đến nay, hợp đồng đăng ký xuất khẩu gạo đạt trên 3,5 triệu tấn, giảm gần 8% so cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, hợp đồng tập trung gần 800 nghìn tấn, còn lại là hợp đồng thương mại. Lượng gạo còn chưa giao theo hợp đồng khoảng 1,5 triệu tấn.

 Tuy nhiên, theo các doanh nghiệp (DN), tình hình xuất khẩu gạo năm nay rất bế tắc. Một số đối thủ cạnh tranh trực tiếp mặt hàng gạo với Việt Nam có gạo tồn kho lớn, như: Thái Lan khoảng 15-16 triệu tấn, Ấn Độ trên 23 triệu tấn.

 Lãnh đạo VFA cho biết, Thái Lan đang có xu hướng giảm giá gạo để giảm tồn kho. Còn Ấn Độ, Pakistan cũng đang cạnh tranh gay gắt tại thị trường châu Phi và Trung Đông; Myanmar, Campuchia đẩy mạnh xuất khẩu gạo vào thị trường EU, Trung Quốc.

 Trong khi xuất khẩu khó khăn, giá lúa trong nước đang ở mức thấp và có xu hướng sụt giảm. Ông Võ Thành Đô, Phó Cục trưởng Chế biến Nông lâm thủy sản và Nghề muối (Bộ NN&PTNT) cho biết: Tại Đồng bằng sông Cửu Long, một số nơi thu hoạch lúa hè thu sớm. Hiện giá thu mua lúa ở mức 4.150 - 4.250 đồng/kg (lúa tươi giống IR 50404). “Dù Việt Nam vừa trúng hợp đồng cung cấp 150 nghìn tấn gạo cho Philippines, nhưng giá lúa có xu hướng giảm và đứng ở mức thấp”- ông Đô nói.

 Trước tình hình trên, VFA đề xuất thu mua tạm trữ lúa gạo hè thu. Tuy nhiên, theo ông Đô, với mức giá trên, so với giá thành lúa hè thu do Bộ Tài chính công bố hồi giữa tháng 5 (bình quân 4.091 đ/kg), nông dân có lợi nhuận xấp xỉ 30%. “Thời gian tới, chúng tôi sẽ theo dõi sát tình hình giá cả thu mua lúa hè thu, nhất là vào thời điểm thu hoạch rộ (tháng 7, 8) để đề xuất số lượng và thời gian thu mua lúa hè thu hợp lý, đảm bảo lợi nhuận cho nông dân”-ông Đô nói.

 Bỏ tư duy lúa năng suất cao, giá rẻ 

 Trong số hơn 2,1 triệu tấn gạo xuất khẩu trong 5 tháng đầu năm, Trung Quốc tiêu thụ lúa gạo Việt Nam lớn nhất, với thị phần khoảng 35%. Thực tế, nhu cầu lúa gạo từ Trung Quốc rất lớn, nhưng từ giữa năm ngoái đến nay, Trung Quốc siết chặt việc nhập khẩu gạo qua biên giới với Việt Nam, khiến xuất khẩu gạo trong nước gặp khó khăn, rủi ro, khó lường. Thậm chí, năm ngoái, nhiều hợp đồng đã ký qua chính ngạch cũng bị hủy bỏ.

 Bà Nguyễn Thị Bích Vượng, Giám đốc Cty TNHH Thương mại Xuất Nhập khẩu Hưng Thịnh (Lào Cai)- một DN chuyên xuất gạo tiểu ngạch qua Trung Quốc cho biết, khoảng 3 tháng đầu năm, thi thoảng xuất được vài chuyến. Từ đầu tháng 4 lại đây, Trung Quốc lại “làm căng”, không đi được lô nào, hàng nghìn tấn gạo nằm “chết dí” trong kho. Bà Vượng nói: “Chúng tôi đang lo nếu gạo chất đống, trả tiền lãi ngân hàng đã chết, mùa mưa tới gần nguy cơ ẩm mốc, xuống cấp, gạo mất giá còn chết nữa”.

 Ông Phạm Quang Diệu, Kinh tế trưởng của Cty CP Phân tích và Dự báo Thị trường Việt Nam (Agromonitor)- chuyên gia lúa gạo cho biết, giá gạo nước ta thấp vì DN xuất khẩu gạo Việt Nam đang phải đối mặt với người mua quyền lực- là những tập đoàn xuất khẩu hàng đầu thế giới chi phối về giá xuất khẩu. Đây là những tập đoàn có doanh thu 60-70 tỷ USD/năm, DN Việt Nam gần như không thể cạnh tranh với họ.

 Trong khi đó, lâu nay gạo Việt Nam chủ yếu xuất sang các thị trường truyền thống như Philippines, Malaysia, Indonesia và Trung Quốc; phần lớn là gạo phẩm cấp thấp. Ông Diệu cho rằng: “Chúng ta đang rơi vào cái bẫy bán gạo phẩm cấp thấp, thanh toán rất rủi ro với Trung Quốc. Trung Quốc không bao giờ công bố con số thực về nhu cầu nhập bao nhiêu gạo. Dù cần rất lớn, nhưng số liệu họ đưa ra nhỏ. Họ không dại gì phải công bố nhập nhiều vì bất lợi cho họ về giá cả, thị trường. Năm ngoái, Trung Quốc nhập tiểu ngạch của Myanmar 1 triệu tấn, duy trì tình trạng đó để hưởng lợi, chứ không làm xuất khẩu chính ngạch”.

 Ông Diệu cho rằng, dù xuất gạo nhiều sang Trung Quốc, nhưng ít DN hiểu được thị trường này, các thông tin chỉ dừng lại ở cửa khẩu. Trong khi đó, đội ngũ bán hàng chỉ thông thạo tiếng Anh, tiếng Trung hạn chế. Theo ông Diệu, để thoát khỏi “bẫy” gạo phẩm cấp thấp, Việt Nam cần phải tăng sản xuất gạo thơm, chất lượng cao, tạo sức cạnh tranh, có thể xuất đi nhiều thị trường, phân tán rủi ro. Nhà nước cần có chiến lược, chuyển đổi cơ cấu gạo xuất khẩu khoảng 2-3 triệu tấn gạo thơm sẽ có lợi cho gạo xuất khẩu nước ta.

 Còn ông Nguyễn Văn Nam, nguyên viện trưởng Viện Nghiên cứu Thương mại (Bộ Công Thương) cho rằng: Muốn gạo xuất khẩu giá tốt, cần nâng cao chất lượng hạt gạo, bỏ tư duy thích trồng lúa năng suất cao, nhiều tấn nhiều tạ của người nông dân, thích mua gạo giá rẻ của DN. “DN kinh doanh phải đi khai thác, tìm hiểu thị trường xem họ cần loại gạo gì để về liên kết nông dân sản xuất, chứ không phải đi mua thóc rẻ của dân để bán rẻ cho thị trường dễ tính khi họ cần mua gấp”- ông Nam nói.

 Theo nhận định của VFA, năm nay Trung Quốc dự kiến nhập khẩu 4 triệu tấn gạo (trong đó họ đã ký thỏa thuận với Thái Lan 2 triệu tấn) và có khả năng lớn hơn. Ngoài ra, các nước trong khu vực ASEAN cũng có nhu cầu nhập trên 4 triệu tấn; trong đó Philippines khoảng 1,7 triệu tấn, Malaysia khoảng 1,1 triệu tấn, Indonesia 1,3 triệu tấn. Châu Phi dự kiến nhập hơn 10 triệu tấn.

Nguồn: Theo Báo Tiền phong



Chủ nhân cánh đồng lớn giữa Đồng Tháp Mười


Những năm gần đây, trong khi không ít nông dân ở huyện Tam Nông (Đồng Tháp) còn loay hoay với mô hình liên kết hay tích tụ ruộng đất, thì ông Nguyễn Văn Khanh, ở ấp B, xã Phú Cường đã sở hữu những cánh đồng lúa rộng cả trăm ha, mỗi vụ thu lãi tới 3-4 tỷ đồng. 

 Mỗi vụ thu 6 tỷ đồng nhờ trồng lúa 

 Như đã hẹn trước, chúng tôi có mặt tại cánh đồng lúa rộng cả trăm ha của ông Khanh trong dịp mọi người đang tất bật vào mùa thu hoạch. Cả cánh đồng bạt ngàn lúa vàng, oằn bông, trĩu hạt; từng tốp nhân công đang cần mẫn vận hành máy gặt lúa, vận chuyển lúa đến điểm cân trọng rồi đưa xuống ghe. Trong một lán trại gần đó, ông Khanh đang nhận tiền đặt cọc bán lúa trên 1 tỷ đồng từ một doanh nghiệp. Cách đó không xa, một tốp nhân công là các bé gái khoảng 14 - 18 tuổi cùng những người dì, người mẹ ngồi lựa từng hạt lúa giống tốt (loại bỏ những hạt lúa xấu) để chuẩn bị cho vụ gieo sạ mùa tiếp theo. Thấy tôi cứ mải mê ngắm, ông Khanh vội kéo tôi vào và nói: “Phải lựa lúa giống kỹ càng như vậy khi gieo sạ mới nảy mầm tốt và trong quá trình canh tác phải thường xuyên khử lẫn lúa tạp rồi chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh, rầy nâu, ốc bươu vàng phá hại lúa chu đáo mới cho ra sản phẩm chất lượng cao, được doanh nghiệp tin cậy, thu mua giá cao được”.

 Chu nhan canh dong lon giua Dong Thap Muoi Doanh nghiệp 
tấp nập đến thu mua lúa của ông Khanh. 

Vùng Đồng Tháp Mười vang danh “cò bay thẳng cánh” mà nhiều người thường ví von “Đồng Tháp Mười của chúng ta/Trăng lên, trăng lặn vẫn không ra ngoài”. Đất đai rộng như vậy, nhưng việc canh tác lúa lâu nay vẫn còn manh mún, sản xuất lạc hậu nên người nông dân gặp không ít khó khăn từ khâu giảm chi phí đầu tư, hạ giá thành trong sản xuất đến khâu tạo ra sản lượng lúa lớn, chất lượng cao… Và để có diện tích lớn sản xuất cùng một loại giống, từ năm 2013, mấy anh em của ông Khanh đã bàn bạc và thống nhất giao đất ruộng của mình cho ông Khanh toàn quyền sử dụng. Ông Nguyễn Văn Kha - anh ruột ông Khanh chia sẻ: “Năm 2012, mấy anh em chúng tôi được cha mẹ chia cho mỗi người 11ha đất ruộng để làm của hồi môn. Thấy thằng Khanh nó mê làm ruộng nên anh em tôi giao đất cho nó làm, mỗi năm thằng Khanh trả lãi bình quân 1,8 triệu đồng/công. Sau khi giao đất cho Khanh, anh em tôi đều rảnh rang làm công việc khác mà mình yêu thích để phát triển kinh tế gia đình”.

 Sau khi được giao tới 80ha ruộng, ông Khanh đã mạnh dạn đầu tư vốn mua sắm trang thiết bị máy móc phục vụ sản xuất nông nghiệp như máy cày, máy xới, máy gặt đập liên hợp… Rồi xây dựng kho chứa lúa, thuê nhân công trang sửa mặt ruộng, nạo vét đường nước tưới- tiêu và nhất là chọn một loại giống lúa Nhật để canh tác, bởi theo ông với diện tích lớn như thế không có máy móc cơ giới hiện đại thì không thể làm được và làm cũng không có hiệu quả.

 Sau hơn 2 năm canh tác theo quy mô sản xuất cánh đồng lớn, cho ra sản lượng lúa có chất lượng cao và thuần chủng một loại giống lúa Nhật, mỗi mùa vụ đều có 3 - 5 doanh nghiệp đến tham quan và đặt cọc, đưa phương tiện vào tận ruộng để thu mua lúa của ông Khanh với giá dao động từ 6.500 - 7.100 đồng/kg (tùy theo thời điểm). Những doanh nghiệp mua lúa của ông Khanh đều có mối liên kết bền vững với các công ty như Công ty Lương thực Tiền Giang, Công ty Lương thực Cần Thơ… tạo thành một chuỗi liên kết khép kín. Nhờ vậy, trong mỗi mùa vụ qua, ông Khanh thu trên dưới 6 tỷ đồng. Sau khi trừ tất cả chi phí đầu tư, trả tiền thuê mướn nhân công… ông Khanh còn lãi 3,5 - 4 tỷ đồng.

 Ông Thái Văn Thành, ngụ xã Hòa Bình, huyện Tam Nông không khỏi khâm phục cách làm của ông Khanh, nói: “Tôi có đất ruộng gần với đất của anh Khanh và cũng làm cùng một loại giống lúa Nhật, nhưng ông Khanh làm hiệu quả hơn. Cái hơn của ông Khanh là làm nhiều nên hiệu quả hơn. Các doanh nghiệp họ cũng thích mua của ông Khanh hơn do sản lượng lúa nhiều, lại chất lượng”.

 Điển hình về làm cánh đồng lớn 

 Trong vụ lúa hè thu này, ông Khanh canh tác tới 120ha lúa Nhật (tăng hơn 40ha so với trước). Trà lúa đang phát triển tốt, hứa hẹn một vụ mùa nữa thắng lợi. Đứng giữa cánh đồng lúa Nhật nhìn hút tầm mắt, ông Nguyễn Văn Khanh không giấu được niềm vui và tự hào cho biết: “Có được cánh đồng lớn, tôi có điều kiện thuận lợi để thỏa sức tính toán làm ăn. Dự tính, trong thời gian tới, tôi sẽ huy động thêm ít nhất 150ha để sản xuất tập trung hơn nữa và đầu tư thêm lò sấy, kho chứa nhằm nâng cao chất lượng hạt lúa, giảm chi phí đầu tư, nâng cao lợi nhuận”.

 Với chủ trương mở rộng cánh đồng liên kết, có diện tích lớn để áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, giảm giá thành, tăng lợi nhuận… mô hình “tích tụ ruộng đất” của gia đình ông Nguyễn Văn Khanh là một cách làm hay, giúp sản xuất nông nghiệp thoát khỏi tình trạng manh mún, thoát khỏi nhiều khó khăn để phát triển. Thấy ông Khanh làm ăn hiệu quả, nhiều hộ làm ăn nhỏ lẻ trong vùng đã chủ động cho ông thuê lại đất để sản xuất. Giờ đây, ông Khanh đã trở thành ông chủ thực sự trên chính đồng ruộng của mình, ông bảo: “Người ta cứ nói trồng lúa nghèo và không biết làm gì mới đi làm lúa, còn tôi thì nghĩ khác, làm gì cũng phải biết tính toán, biết hướng tới thị trường. Thị trường người ta cần lúa thơm, dẻo mà mình cứ đi trồng lúa IR50404 chất lượng thấp, rồi cứ đợi vào xuất khẩu thì chỉ có thua. Khi có nhiều lúa rồi, thì cũng phải biết đầu tư kho chứa để đảm bảo chất lượng lúa sau khi thu hoạch, chứ cứ thu xong rồi vứt ngay ở đồng, bảo sao thương lái họ chẳng mua giá thấp”.

 Nói về cách làm của ông Khanh, ông Lê Hoàng Nam - Phó Chủ tịch UBND huyện Tam Nông cho biết: “Mô hình sản xuất lúa của ông Khanh khá độc đáo, đang được các ngành chức năng nghiên cứu phát huy sản xuất để nhân rộng theo hướng sản xuất lớn từ nay đến năm 2020 và trở thành điểm sáng về tái cơ cấu trong nông nghiệp của Đồng Tháp”.

 Để hỗ trợ người trồng lúa, UBND tỉnh Đồng Tháp đã có quyết định hỗ trợ 50% lãi suất cho những nông dân vay tiền thuê đất mở rộng diện tích lên ít nhất 3ha. Chính sách này đang được thí điểm ở Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp Tân Cường, xã Phú Cường; Tân Tiến và Phú Bình, xã Phú Đức, huyện Tam Nông. Hiện đã có 29 nông hộ được hỗ trợ lãi suất vay 700 triệu đồng thuê đất và cải tạo đồng ruộng.

Nguồn: Theo Báo Dân Việt



Thứ Năm, ngày 18 tháng 6 năm 2015

Chưa cần thêm đầu mối xuất khẩu gạo


Xuất khẩu gạo khó khăn không phải do nhiều hay ít doanh nghiệp tham gia xuất khẩu. Vấn đề cần là doanh nghiệp có tiềm lực, có khả năng tiếp cận thị trường, tổ chức gắn kết với sản xuất… 

 Đưa ra lý do xuất khẩu gạo từ đầu năm đến nay gặp nhiều khó khăn, kim ngạch đều giảm trên 10% so với cùng kỳ năm trước, tồn kho nhiều hơn... nhiều doanh nghiệp đã đưa ra kiến nghị nên bỏ điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo theo Nghị định 109/2010/NĐ-CP của Chính phủ để xuất khẩu gạo được "thoái mái" hơn.

 Tuy nhiên,Thứ trưởng Bộ Công Thương ông Trần Tuấn Anh cho rằng: nguyên nhân xuất khẩu gạo khó khăn là do nguồn cung trên thế giới tăng lên nhanh, các nước tham gia xuất khẩu cũng nhiều hơn và nguồn gạo dự trữ xuất khẩu tăng dẫn tới sự cạnh tranh mạnh mẽ.

 Sự cạnh tranh này không chỉ ở các thị trường thương mại như Trung Quốc, châu Phi, Trung Đông mà còn diễn ra ở các thị trường tập trung như Indonesia, Philippines.

 Hơn nữa, trước khi có Nghị định 109, số lượng doanh nghiệp xuất khẩu lên tới gần 400 doanh nghiệp nhưng không hiệu quả và nảy sinh nhiều bất cập. Khối lượng gạo xuất khẩu cũng chỉ khoảng 5-7 triệu tấn nhưng giá xuất khẩu gạo liên tục giảm.

 “Chính phủ chỉ đạo tổ chức lại hoạt động sản xuất kinh doanh gạo không phải theo hướng “siết” chặt lại mà theo hướng cân đối số lượng doanh nghiệp xuất khẩu với quy mô gạo xuất khẩu để đảm bảo lợi ích quốc gia, doanh nghiệp và người nông dân”, ông Tuấn Anh nói.

 Vì vậy, vị Thứ trưởng này cho rằng, khó khăn trong xuất khẩu gạo hiện nay không phải do nhiều hay ít doanh nghiệp tham gia. Vấn đề cần là doanh nghiệp phải có tiềm lực, có khả năng tiếp cận thị trường, tổ chức gắn kết với sản xuất, xây dựng thương hiệu có hiệu quả hơn.

 “Do vậy, chúng tôi thấy chưa cần có nhu cầu cần tăng hơn nữa số lượng doanh nghiệp tham gia xuất khẩu”, ông Tuấn Anh khẳng định.

 Theo thống kê của Hiệp hội Lương thực Việt Nam, xuất khẩu gạo tính từ đầu năm đến ngày 11-6 đạt 2,123 triệu tấn, trị giá FOB 893,152 triệu USD, trị giá CIF 918,667 triệu USD. Giá xuất khẩu gạo 5% tấm của Thái Lan, Việt Nam và Ấn Độ hiện tương ứng đạt 365 USD/tấn, 355 USD/tấn và 380 USD/tấn, giảm so với 410 USD/tấn, 380 USD/tấn và 390 USD/tấn hồi đầu năm.

 Theo nhận định của các chuyên gia, nhu cầu nhập khẩu gạo của Philippines tăng do vậy sẽ hỗ trợ giá gạo xuất khẩu đang liên tục giảm tại châu Á.

 Còn theo đánh giá của Hiệp hội Lương thực Việt Nam, từ khoảng cuối tháng 6 đến đầu tháng 7, thị trường xuất khẩu gạo có thể sôi động trở lại. Ngoài Philippines, Việt Nam cũng đang thương thảo với thị trường Malaysia để quốc gia này nhập khẩu thêm gạo.

Nguồn: Theo Báo Hải quan



Bán gạo cho Philippines: Không nước nào trúng thầu


Trong phiên mở thầu hôm nay (16-6), cả ba ứng viên tham dự để cung cấp 100.000 tấn gạo (loại 25% tấm) cho Philippines, gồm Việt Nam, Thái Lan và Campuchia đều bị loại do giá bỏ thầu cao hơn dự kiến ngân sách được Cơ quan lương thực quốc gia Philippines (NFA) đưa ra. 

 Trao đổi với TBKTSG Online chiều hôm nay 16-6, giám đốc một doanh nghiệp xuất khẩu gạo lớn ở Đồng bằng sông Cửu Long (đề nghị không nêu tên) đã xác nhận thông tin này.

 Theo ông, mức dự kiến ngân sách được NFA đưa ra để nhập khẩu 100.000 tấn gạo lần này là 408,14 đô la Mỹ/tấn, trong khi đó, dù có mức giá bỏ thầu thấp nhất trong số 3 ứng viên tham dự, nhưng Việt Nam cũng không được chọn vì vẫn cao hơn dự kiến ngân sách của NFA.

 Cụ thể, mức giá được doanh nghiệp là đại diện của Việt Nam bỏ thầu là 417 đô la Mỹ/tấn, còn Thái Lan và Campuchia lần lượt đưa ra mức giá 418 và 464 đô la Mỹ/tấn.

 Theo tìm hiểu của TBKTSG Online, NFA mở thầu nhập khẩu 100.000 tấn gạo lần này là để bổ sung cho số lượng gạo nhập khẩu còn thiếu được mở thầu hôm 5-6 vừa qua. Trong phiên thầu hôm 5-6, Việt Nam đã giành được hợp đồng cung cấp 150.000 tấn gạo cho Philippines sau khi đồng ý thỏa hiệp giảm xuống mức giá 410,12 đô la Mỹ/tấn như yêu cầu của NFA.

 Được biết, từ đầu năm đến nay, Philippines đã nhập khẩu tổng cộng 650.000 tấn gạo theo thỏa thuận liên Chính phủ (G2G) để ổn định giá trong nước và gia tăng nguồn dự trữ quốc gia, trong đó nhập khẩu từ Việt Nam là 450.000 tấn và Thái Lan là 200.000 tấn.

Nguồn: Theo Thời báo kinh tế Sài Gòn



IRRI hỗ trợ phần mềm quản lý đồng ruộng cho nông dân


Với phần mền hỗ trợ quản lý đồng ruộng của mình, Viện nghiên cứu lúa gạo quốc tế (IRRI), Philippines kỳ vọng sẽ giúp người nông dân tăng thu nhập thêm 100 đô la Mỹ mỗi héc ta sau mỗi vụ sản xuất. 

 Đây là phần mềm được IRRI hợp tác với cơ quan quản lý các nước trong khu vực nơi chủ yếu người dân sống dựa vào nông nghiệp như Bangladesh, Ấn Độ, Indonesia, Philippines, Việt Nam để cùng làm.

 Phần mềm có ngôn ngữ tiếng Anh và tiếng Việt. Hiện phần mềm mới có phần hỗ trợ nông dân ở khu vực Đồng bằng Sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long - các vùng sản xuất nông nghiệp chính của Việt Nam.

 Hiện IRRI đang chạy ở phiên bản thử nghiệm (phiên bản beta) trên máy tính và điện thoại thông minh (smartphone), hỗ trợ canh tác cây lúa, bắp (ngô).

 Thông qua phần mềm này, nông dân sẽ được hướng dẫn cách sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu… sao cho hiệu quả và giảm chi phí nhất nhưng lại tăng năng suất cây trồng. Vì thế, theo IRRI mỗi héc ta cây trồng có thể giúp người dân tăng thêm thu nhập 100 đô la Mỹ.

 Theo Cục trồng trọt, Bộ NN&PTNT, hiện chỉ có những nông dân tham gia vào cánh đồng mẫu lớn với các doanh nghiệp mới ghi nhật ký đồng ruộng để theo dõi quá trình sản xuất, giúp truy xuất nguồn gốc còn lại phần lớn nông dân trồng lúa, trồng bắp.. theo kinh nghiệm là chính.

 Tuy nông dân tham gia cánh đồng lớn có nhật ký ghi chép nhưng đa phần nông dân ghi vào một cuốn sổ, còn với phần mềm này, khi nông dân nhập những thông tin cơ bản, phần mềm sẽ đưa ra những hỗ trợ kỹ thuật tiếp theo cho nông dân.

 Theo một khảo sát của Trung tâm khuyến nông tỉnh An Giang, một héc ta trồng lúa sau khi trừ đi các chi phí phân bón, chăm sóc, thu hoạch … người nông dân có lợi nhuận thu về khoảng 8,5 triệu đồng.

 Trong một diễn biến có liên quan, từ thông tin ban đầu mà Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online có được, IRRI đang có kế hoạch mở văn phòng đại diện tại Việt Nam. Trong những năm qua, có rất nhiều giống lúa ngắn ngày, năng suất cao được Việt Nam nhập về từ IRRI cho nông dân trồng đại trà.

Nguồn: Theo Thời báo kinh tế Sài Gòn



Thứ Ba, ngày 16 tháng 6 năm 2015

Nên bắt đầu từ sản xuất


Mục tiêu của đề án phát triển thương hiệu gạo Việt Nam là đến năm 2020 có 20% tổng sản lượng gạo xuất khẩu mang thương hiệu Việt Nam, tỷ lệ này được nâng lên thành 50% từ năm 2030 và khi đó, gạo trong nước trở thành thương hiệu gạo hàng đầu thế giới. Tuy nhiên, trao đổi với TBKTSG, không ít doanh nghiệp tỏ ra nghi ngại... 

 Sản xuất “vướng”, thương hiệu ở đâu ra?

 “Tôi cho rằng chuyện đó rất khó để đạt được”, ông Lâm Anh Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH Thịnh Phát (Bến Tre), nói về định hướng mục tiêu chung được Chính phủ đề ra trong Quyết định số 706/QĐ-TTg về việc phê duyệt đề án “Phát triển thương hiệu gạo Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”.

 Theo ông Tuấn, việc xây dựng thương hiệu gạo phải bắt đầu từ khâu sản xuất. “Nếu anh có được một giống lúa tốt, tổ chức sản xuất tốt, ổn định về chất lượng và đạt sản lượng tương đối lớn thì mới mong đến chuyện thương hiệu”, ông Tuấn nói.

 Cùng quan điểm, ông Phạm Thái Bình, Giám đốc Công ty TNHH Trung An (Cần Thơ), cũng cho rằng phải bắt đầu từ việc tổ chức lại sản xuất. “Từ thực tế sản xuất tốt mới cho ra được loại lúa nào đó có chất lượng tốt, từ lúa đó mới cho ra gạo và khi lượng gạo đó hội tụ được yêu cầu về chất lượng, số lượng, được người tiêu dùng trong và ngoài nước biết đến, tìm mua rộng rãi, thì thương hiệu tự nhiên sẽ hình thành”, ông Bình phân tích.

 Theo ông Tuấn, thực tế sản xuất hiện nay ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) bị vướng rất nhiều, vướng lớn nhất là sản xuất manh mún, mạnh ai nấy làm; quy trình chưa đạt yêu cầu... “Chẳng hạn, tôi đang làm cánh đồng lớn với nông dân ở xã Châu Hưng (huyện Bình Đại, Bến Tre). Tôi đề nghị bà con nông dân mua giống xác nhận để sản xuất do chất lượng gạo vụ vừa rồi xay xát ra không đạt yêu cầu. Nhưng, họ (nông dân) không chịu vì cho rằng mua giống xác nhận giá quá cao, trong khi lấy lúa thịt làm giống giá rẻ hơn. Họ không thấy rằng dù giống xác nhận giá có cao, nhưng năng suất sẽ cao hơn, việc phòng trừ sâu, bệnh đảm bảo hơn và chất lượng gạo giữ được ổn định hơn... Muốn nông dân thay đổi nhận thức này không phải là điều đơn giản”, ông Tuấn dẫn chứng.

 Cũng theo ông Tuấn, trong trường hợp sản xuất chưa ổn định được cả về chất lượng, số lượng hoặc có chất lượng rồi nhưng số lượng không đủ hay ngược lại, mà đã vội bỏ tiền ra làm thương hiệu, thì có khả năng công sức có thể sẽ “đổ sông, đổ biển”. “Bài học của việc này, chúng ta cũng đã thấy rất rõ, đó là chuyện của vú sữa Lò Rèn, bưởi Năm Roi... Sau khi làm thương hiệu xong, được người ta đặt hàng mua thì không có để bán”, ông Tuấn kể

 Trong khi đó, giám đốc một doanh nghiệp xuất khẩu gạo lớn ở ĐBSCL (không muốn nêu tên), cho rằng việc sản xuất còn “chạy theo phong trào” như hiện nay sẽ rất khó đạt được thương hiệu như mục tiêu Chính phủ đã đề ra. “Về nguyên tắc, khi anh sản xuất giống A mà muốn chuyển sang giống B, thì đất phải được xử lý triệt để, không để lúa của vụ trước còn sót lại. Hiện nông dân thấy làm lúa IR 50404 “có ăn” (lãi) thì lập tức chuyển sang giống này, đến vụ sau thấy lúa jasmine “có ăn” lại chuyển sang giống đó. Nhưng lúa của vụ trước còn, nó phát triển lên, làm độ thuần hay nói cách khác là chất lượng gạo sản xuất ra giảm, không thể có được thương hiệu”, vị này giải thích.

 Cần triệt tiêu lợi ích nhóm 

 Nhiều doanh nghiệp xuất khẩu gạo ở ĐBSCL đồng ý rằng việc xây dựng thương hiệu gạo Việt là cần thiết và bắt buộc phải làm nếu muốn cạnh tranh. Tuy nhiên, ông Huỳnh Văn Thòn, Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng giám đốc Công ty cổ phần Bảo vệ thực vật An Giang (AGPPS), cho rằng phải thoát được lợi ích nhóm. “Chừng nào còn lợi ích nhóm thì đừng hòng, đừng bao giờ nghĩ rằng có thể làm được thương hiệu thành công”, ông Thòn nhấn mạnh.

 Mặt khác, theo ông Thòn, trong hoàn cảnh của Việt Nam hiện nay, bản thân các doanh nghiệp phải tự nỗ lực xây dựng thương hiệu gạo cho mình và nó sẽ trở thành thương hiệu gạo quốc gia khi nào hội tụ đủ các điều kiện cần thiết. “Tất nhiên, trong quá trình đó, sẽ có sự sàng lọc, có doanh nghiệp làm được, có doanh nghiệp không, thương hiệu gạo nào còn lại thì tên tuổi tự nhiên trở thành thương hiệu gạo chung”, ông Thòn nói.

 Tuy nhiên, theo ông Thòn, muốn làm được như vậy, thứ nhất chính sách phải phù hợp. Ví dụ, trước kia những doanh nghiệp bán gạo đóng túi vào cửa hàng có tiêu chuẩn, tiêu chí bị đóng thuế 5% còn người bán gạo trộn bên ngoài thì không bị đóng thuế. “Như vậy, làm sao doanh nghiệp làm thương hiệu cạnh tranh lại, coi như mình làm chính sách mà là “thất sách”, “thất sách” ở chỗ ủng hộ cách làm phi thương hiệu. Gần đây, Nhà nước đã thay đổi được điều đó, tôi rất mừng”, ông Thòn cho biết.

 Thứ hai, Nhà nước phải có quy chuẩn chung để doanh nghiệp cùng chấp hành. “Khi Nhà nước đề ra quy chuẩn để kiểm soát, có nghĩa rằng là mọi người đều được đối xử công bằng, chứ nếu không tôi e có người lợi dụng điều này để làm khó cho một vài doanh nghiệp và lợi ích nhóm nằm ở chỗ đó”, ông Thòn nói.

 Ông Thòn gợi ý, chính sách Nhà nước nên đi theo hướng “thưởng” cho những doanh nghiệp xây dựng được thương hiệu: “Anh nào làm được thì mình “thưởng” cho họ và làm tiếp sẽ thưởng tiếp, chứ không nên theo kiểu tôi làm trước rồi phải chạy đi xin đằng này, xin đằng kia...”.

 “Chừng nào còn lợi ích nhóm thì đừng hòng, đừng bao giờ nghĩ rằng có thể làm được thương hiệu thành công”.
 Ông Huỳnh Văn Thòn, Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng giám đốc Công ty cổ phần Bảo vệ thực vật An Giang (AGPPS) 

 Trong khi đó, dù ủng hộ đề án, ông Phạm Thái Bình tỏ ra hoài nghi về tính khả thi của nó, bởi trước đây Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách rất đúng, được doanh nghiệp, nông dân trông chờ, nhưng không đi vào được cuộc sống.

 Ông Bình dẫn chứng, như Quyết định số 68/2013/QĐ-TTg của Chính phủ về chính sách hỗ trợ giảm tổn thất sau thu hoạch có nêu đầu tư máy sấy lúa sẽ được hỗ trợ lãi suất mà cụ thể là miễn thuế trong hai năm đầu và giảm 50% trong năm thứ ba. “Nhưng khi chúng tôi (doanh nghiệp) đi vay thì ngân hàng nói thông tư hướng dẫn số 08 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nói chỉ có hộ gia đình mới được hưởng, chứ doanh nghiệp không được hưởng. Khi chúng tôi hỏi bộ này thì bộ nói ngân hàng không hiểu ý câu từ của họ. Cuối cùng, hai “ông” tranh luận trước mặt chúng tôi và hứa sẽ trả lời vấn đề này, nhưng đến nay đã hai tháng chúng tôi vẫn chưa nhận được trả lời”, ông Bình than phiền.

Nguồn: Theo Thời Báo kinh tế Sài Gòn



Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More