Chương trình theo dõi lúa ĐB sông Hồng

Ứng dụng công nghệ viễn thám đa thời gian trong công tác theo dõi lúa trên toàn vùng đồng bằng sông Hồng. Báo cáo hàng tháng được trình lên Bộ trưởng Bộ NN và PTNT.

Sử dụng tư liệu ảnh vệ tinh độ phân giải cao về thời gian

Tư liệu ảnh vệ tinh MODIS độ phân giải 250m chụp hàng ngày được thu nhận và xử lý tạo các tổ hợp 8 và 16 ngày phục vụ công tác nghiên cứu.

Nghiên cứu hạn hán hoặc ngập lụt

Bên cạnh công tác theo dõi lúa, chương trình cũng theo dõi các thảm họa thiên nhiên ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động sản xuất nông nghiệp như hạn hán, ngập lụt...

Theo dõi sâu bệnh

Theo dõi diện tích lúa bị sâu bệnh bằng phương pháp viễn thám, từ đó đưa ra mức độ cảnh báo về năng suất, chất lượng của mùa vụ.

Theo dõi quá trình xâm thực mặn

Phương pháp viễn thám được sử dụng trong công tác theo dõi xâm thực mặn từ biển gây ảnh hưởng đến quá trình canh tác sản xuất nông nghiệp và đời sống người dân...

Báo cáo kết quả trực tuyến

Các báo cáo được đăng tải hàng tháng trên trang web http://theodoilua.blogspot.com cùng bộ bản đồ trực tuyến xây dựng theo công nghệ WebGIS...

Thứ Sáu, ngày 25 tháng 4 năm 2014

Doanh nghiệp gạo đã ế còn bị cấm xuất khẩu


Trong bối cảnh thị trường xuất khẩu gạo đang gặp rất nhiều khó khăn thì lệnh cấm càng làm tình hình bức bối thêm. 

 Cộng đồng doanh nghiệp xuất khẩu gạo vừa nhận được văn bản từ Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) do đích thân tân Chủ tịch Nguyễn Hùng Linh ký, yêu cầu không được xuất khẩu gạo thơm, gạo đồ vào thị trường Iraq trong thời gian gần 3 tháng, từ ngày 20.4 đến ngày 17.7.2014.

 Trong công văn gửi tới các doanh nghiệp đề ngày 18.4.2014, VFA giải thích lệnh cấm trên căn cứ vào văn bản báo cáo kế hoạch mua gạo của Chính phủ Iraq, trong đó có gạo thơm, gạo đồ của Việt Nam, thời gian nộp thầu là ngày 20.4.2014 của Tổng công ty Lương thực miền Bắc.

Một nguồn tin từ VFA cho biết, theo quy định của Bộ Công Thương và Nghị định 109, các thị trường xuất khẩu gạo tập trung được chỉ định 2 đơn vị là Tổng công ty Lương thực miền Bắc (Vinafood 1) và Tổng công ty Lương thực miền Nam (Vinafood 2) tham gia. Mục đích là tránh tình trạng cạnh tranh bán giá thấp, gây bất lợi đến kết quả dự thầu và các hợp đồng ký được sau đó sẽ chia lại cho các doanh nghiệp khác.

Do đó, khi có bất cứ đợt mở thầu nào từ các thị trường tập trung, các doanh nghiệp khác không được tham gia bán trực tiếp hoặc bán qua bên thứ ba để xuất vào. “Đây là quy định áp dụng từ trước đến nay. Vinafood 1 được giao dự thầu thị trường Iraq, Cuba, còn Vinafood 2 được giao thị trường Malaysia, Indonesia và Philippines", nguồn tin trên cho hay.

Một số doanh nghiệp ủng hộ quy định này, tuy nhiên trong bối cảnh thị trường xuất khẩu gạo đang gặp rất nhiều khó khăn, nguồn cung dồi dào, giá giảm, nông dân không bán được lúa, còn doanh nghiệp phải cạnh tranh quyết liệt với các nước thì lệnh cấm trên càng làm tình hình khó khăn thêm.

Theo thông báo của Vinafood 1, lần mở thầu này Iraq chỉ mua có 30.000 tấn gạo, hầu hết là gạo thơm và gạo đồ, chỉ mở thầu ngày 20.4 nhưng VFA lại ban hành lệnh cấm đến cuối tháng 7 là quá dài, lấy đi cơ hội xuất khẩu của doanh nghiệp.

 Hơn nữa, ngay trong ngày 22.4, trang web www.oryza.com đã cập nhật chi tiết giá bỏ thầu của các nước, trong đó mức giá của Thái Lan thấp nhất với 481,98 USD/tấn (CIFFO), Việt Nam là 599,5 USD/tấn. Do vậy, nhiều khả năng Vinafood 1 sẽ không dành được hợp đồng trong gói thầu này nên lệnh cấm trên lại càng không có giá trị.

 Mặc dù bị cấm xuất khẩu như vậy, nhưng trao đổi với phóng viên chiều 24.4, nhiều doanh nghiệp cho rằng đã “lâu lắm rồi” họ không được Vinafood 1 chia lại hợp đồng xuất khẩu gạo mỗi khi họ trúng thầu tại các thị trường tập trung. “Thông thường chúng tôi chỉ được Vinafood 2 chia hợp đồng khi họ tham gia dự thầu ở thị trường Philippines, Indonesia hoặc Malaysia, còn Vinafood 1 thì lâu lắm chưa được chia”, giám đốc một doanh nghiệp xuất khẩu gạo nói.

 Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng thông tin, các năm trước VFA chỉ thông báo không được xuất khẩu gạo trắng vào thị trường Iraq, Cuba, nhưng không hiểu sao năm nay lại cấm cả việc xuất khẩu gạo thơm, gạo đồ vốn không phải là thế mạnh của Việt Nam.

Nguồn: Theo motthegioi.vn



Nông dân miền Trung được mùa lúa vụ Đông Xuân


Những ngày này, nông dân Quảng Nam, Quảng Ngãi đang phấn khởi thu hoạch vụ Đông Xuân. Đây là vụ mùa có năng suất lúa được đánh giá cao nhất từ trước đến nay. 

Hiện tại, nông dân Quảng Nam đang thu hoạch hơn 20% diện tích, với năng suất bình quân ước đạt từ 55 đến 65 tạ/ha, cao hơn vụ Đông Xuân 2012-2013. Có nơi năng suất đạt 70 đến 80 tạ/ha. Theo nhận xét của nhiều nông dân, đây là vụ Đông Xuân đạt năng suất cao nhất từ trước đến nay.

 Ngành Nông nghiệp các địa phương của tỉnh Quảng Nam đang đôn đốc các hợp tác xã, hộ nông dân sở hữu các thiết bị máy móc tranh thủ thời tiết tốt khẩn trương thu hoạch vụ mùa, phấn đấu đến cuối tháng 4 thu hoạch xong.

 Vụ lúa Đông Xuân 2013-2014 của tỉnh Quảng Ngãi diễn ra trong điều kiện thời tiết không mấy thuận lợi. Những đợt mưa lũ kéo dài làm cho những trà lúa vừa gieo sạ xong phải gieo cấy lại. Giữa vụ thì khô hạn, thiếu nước tưới, tình hình sâu bệnh diễn biến phức tạp, không hứa hẹn gì về một vụ mùa bội thu.

Nhưng trái với những dự đoán ban đầu, vụ Đông Xuân năm nay của Quảng Ngãi lại đạt năng suất cao khiến nông dân rất phấn khởi. Theo nhận định của ngành chức năng, yếu tố đem lại thành công này là nhờ cơ cấu giống hợp lý, thời vụ sản xuất phù hợp.

Nguồn: Theo vov.vn



XK gạo: Tỉnh táo với những tín hiệu thị trường


Các chuyên gia xuất khẩu gạo cho biết, nhiều khả năng xuất khẩu gạo của Việt Nam sẽ sôi động trở lại từ quý II sau sự trầm lắng của quý I. Tính chung quý I/2014, lượng gạo xuất khẩu đạt hơn 1,2 triệu tấn với trị giá 529,77 triệu USD, giảm 15,4% về lượng và 9% về giá trị so với năm trước. 

Đại diện Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho biết, thông tin Việt Nam trúng thầu cung cấp 800.000 tấn gạo cho Philippines đầu tháng 4/2014 ngay lập tức đã tạo ra những hiệu ứng kích thích thị trường với việc giá lúa, gạo tăng theo hướng có lợi cho nông dân.

 Theo quy luật, xuất khẩu gạo sẽ tăng trưởng trở lại kể từ quý II trở đi. Thông thường mỗi năm, vào quý II, lượng gạo xuất khẩu sẽ đạt khoảng 2- 2,4 triệu tấn, đưa lượng gạo xuất khẩu 6 tháng đầu năm khoảng 3,5 triệu tấn.

 Trong khi đó, mặc dù lượng gạo xuất khẩu sang Trung Quốc- thị trường gạo số 1 của Việt Nam- trong quý I giảm 20%, song các chuyên gia nhìn nhận, thị trường này sẽ sớm sôi động trở lại.

 Một số chuyên gia lý giải sự sụt giảm này chỉ mang tính tạm thời bởi những tháng đầu năm, nguồn cung trong nước nhiều, doanh nghiệp có “thói quen” kéo giá xuống để tranh thủ bán ra. Trong khi đó, các nhà nhập khẩu Trung Quốc tỏ ra đủng đỉnh, chưa nóng vội mua vào.

 Với việc Việt Nam giành được hợp đồng xuất khẩu 800.000 tấn gạo cho Philippines, Trung Quốc sẽ đẩy mạnh nhập khẩu gạo của Việt Nam bởi nguồn cung trong nước sẽ giảm đáng kể, trong khi gạo Việt Nam vẫn là ưu tiên lựa chọn của Trung Quốc. Theo phân tích của một số nhà chuyên môn, yếu tố vị trí địa lý là điều rất quan trọng khiến nguồn cung của Việt Nam có giá cạnh tranh (phí vận chuyển rẻ hơn Thái Lan khoảng 10 USD/tấn).

 “Với ưu thế không bị cạnh tranh bởi Thái Lan, Ấn Độ và Pakistan, lượng gạo trong nước chẳng còn nhiều khi phần lớn được sử dụng để cung cấp cho hợp đồng 800.000 tấn ở Philippines, nhà nhập khẩu Trung Quốc sẽ lại nhanh chân mua vào”- đại diện một công ty xuất khẩu gạo cho biết.

 Các chuyên gia cũng lưu ý, những tín hiệu nói trên cho thấy việc tỉnh táo và bám sát những diễn biến của thị trường vẫn luôn cần được các nhà làm chính sách lẫn doanh nghiệp đặc biệt quan tâm. Bởi sự cạnh tranh trên thị trường gạo vẫn hết sức khốc liệt và luôn tiềm ẩn nhiều bất ngờ.

Nguồn: Theo Báo Công thương



Sẽ sản xuất giống lúa 800 USD/tấn: Cơ hội “thăng hạng” cho gạo Việt


Một số doanh nghiệp cho biết, hiện nay Việt Nam đã dư sức sản xuất những giống lúa thơm chất lượng cao để làm ra gạo trị giá 600 - 800 USD/tấn. 

Vấn đề là tổ chức sản xuất và thị trường như thế nào để những giống lúa này phát huy giá trị, góp phần “thăng hạng” ngành lúa gạo Việt Nam.

 Trước đó, cuối năm 2013, Bộ NNPTNT đã thông qua đề án khung phát triển sản phẩm quốc gia cho mặt hàng gạo, với mục tiêu chọn ra 5 - 7 giống lúa thơm ngắn ngày, đạt giá trị xuất khẩu từ 600 - 800 USD/tấn để có thể cạnh tranh với gạo chất lượng cao của các nước trong khu vực vào năm 2020.

 Tìm phân khúc thị trường 

 Theo một báo cáo của Bộ NNPTNT, những năm gần đây nước ta đã nghiên cứu được hơn 100 giống lúa mới, nhưng đều là những giống thiên về năng suất mà rất hiếm giống chất lượng. Trong khi đó, trên thị trường xuất khẩu, Việt Nam đang phải cạnh tranh trực tiếp với các nước xuất khẩu gạo lớn trong khu vực như Thái Lan, Ấn Độ, Pakistan, Myanmar…

 Hầu hết lượng gạo xuất khẩu thời gian qua chỉ đạt mức giá trên 400 USD/tấn, thậm chí có thời điểm xuống dưới mức này, trong khi giá gạo của nhiều quốc gia khác đạt tới 800 USD/tấn. Xưa nay, các nhà xuất khẩu gạo Việt Nam vẫn khá “tự tin” ở thị trường gạo cấp thấp, cho rằng không có đối thủ, nhưng xem ra trong thời gian tới, ngay cả loại gạo cấp thấp của Việt Nam cũng khó mà cạnh tranh được với gạo Ấn Độ, Pakistan, Myanmar khi các nước này đang tấn công thị trường xuất khẩu gạo một cách ồ ạt.

 Việt Nam có thể phát triển một số giống lúa đặc sản, chất lượng cao sẵn có để làm ra những hạt gạo trị giá 800 USD/tấn. 

 Trong bối cảnh đó, các chuyên gia lúa gạo cho rằng, chúng ta chỉ có thể cạnh tranh được trong phân khúc thị trường gạo thơm, gạo trắng chất lượng cao tại thị trường châu Phi và một số thị trường gần, có thể giao hàng nhanh như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản…

 Tuy nhiên, một cán bộ của Bộ Công Thương nhận định, trong một vài năm tới, Việt Nam sẽ vẫn gặp khó khăn trong xuất khẩu gạo vì lĩnh vực này đang tồn tại rất nhiều khó khăn do chưa có sự thay đổi đáng kể nào về chất, nhất là trong xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu. Mặc dù Việt Nam đã có mấy chục năm tham gia thị trường xuất khẩu gạo, nhưng lại chỉ “bám” theo thị trường cấp thấp, chưa có sự điều chỉnh kịp thời sang phân khúc cấp cao nên hầu hết khách hàng đều nhìn gạo Việt Nam thuộc dạng cấp thấp. Để thay đổi được “ấn tượng” đó trong con mắt khách hàng, chúng ta sẽ có rất nhiều việc phải làm.

 Mới đây, Bộ NNPTNT đã thể hiện quyết tâm thay đổi ngành sản xuất lúa gạo khi ban hành đề án khung phát triển sản phẩm quốc gia cho mặt hàng này. Bộ trưởng NNPTNT Cao Đức Phát cho biết đã “đặt hàng” một viện nghiên cứu tìm ra một số giống lúa thơm chất lượng cao để có thể làm ra những hạt gạo trị giá 600 – 800 USD/tấn. Vài vụ gần đây, Bộ NNPTNT cũng liên tục chỉ đạo các địa phương giảm diện tích giống lúa kém chất lượng như IR50404 không được quá 20% vụ hè, bởi giá gạo thấp chính là do giống này kéo giá xuống.

 Nói về đề án này, GS Võ Tòng Xuân, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học An Giang cho rằng: Tính khả thi của đề án hầu như không có, vì không có sự tổ chức đồng bộ; việc phát triển ngành lúa gạo còn rời rạc từng ban ngành, mạnh ai nấy làm, trong khi người nông dân cần nguyên một chuỗi giá trị như giống, kỹ thuật, chế biến, tiêu thụ với mức giá tốt. Thực tế cho thấy, tỉnh nào cũng nói sẽ đẩy mạnh tái cơ cấu, trồng giống lúa chất lượng cao nhưng không biết ai mua và người nông dân cứ trồng tất cả các giống bán trên thị trường. Nếu cứ để nông dân trồng lúa tự phát, thì không bao giờ chúng ta có sản phẩm độc đáo trên thị trường.

 Muộn còn hơn không 

 Trên thực tế, theo một số doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh giống, Việt Nam đang sở hữu không ít giống lúa đặc sản, có chất lượng cao và hoàn toàn có thể bán được với giá 700 – 800 USD/tấn. Bộ NNPTNT không nhất thiết phải “nhọc công”, tốn tiền đi tìm một giống lúa hoàn toàn mới, trong khi có thể cải tiến một số giống lúa đặc sản để cho ra những sản phẩm gạo xuất khẩu ưng ý.

 Theo ông Nguyễn Văn Bộ - Giám đốc Viện Khoa học Việt Nam, về sản xuất, trước mắt nên tập trung phát triển giống lúa thơm, lúa chất lượng cao ở những cánh đồng mẫu lớn mà các doanh nghiệp có vai trò chủ chốt. Còn về thị trường, cần đánh giá lại những thị trường hiện có để có chiến lược quảng bá và dự báo chính xác về nhu cầu lúa gạo chất lượng cao cũng như gạo cấp thấp. 

 Trao đổi với phóng viên NTNN, bà Trần Kim Liên – Tổng Giám đốc Công ty CP Giống cây trồng Trung ương cho biết: Hiện nay chúng tôi đang có giống lúa thơm RVT, Thiên ưu 8 có thể làm ra gạo bán được với giá 800 USD/tấn. Ngoài ra, miền Nam cũng đang có nhiều giống lúa chất lượng khác như Jasmine, OM4900 và những giống đặc sản như nàng thơm Chợ Đào… Vấn đề chúng ta đang “tắc” là đầu ra, ở các nhà làm thị trường, chứ không phải Việt Nam thiếu giống tốt.

 “Các nhà khoa học đưa ra quá nhiều giống mới nhưng các giống cứ na ná nhau, không có giống nào nổi trội thực sự. Vì thế chúng tôi đang đi theo hướng nghiên cứu giống của Thái Lan, tức là cải tạo các tính trạng của một số giống lúa chất lượng tốt sẵn có. Ví dụ bắc thơm 7 gạo rất ngon, nhưng kháng bạc lá và chịu rét kém; RVT chất lượng tốt nhưng năng suất thấp…, do vậy 11 nhà khoa học của chúng tôi đang đưa các nguồn gene mới vào để giúp các giống này tăng năng suất, chống chịu tốt hơn” – bà Liên nói.

 GS-VS Trần Đình Long, Chủ tịch Hội Giống cây trồng Việt Nam cũng nhấn mạnh thêm, các nước đều đang hướng tới nâng cao chất lượng gạo, đẩy giá gạo xuất khẩu lên cao nên để tăng sức cạnh tranh và tăng lợi nhuận cho nông dân, Việt Nam không thể chần chừ được nữa, bây giờ thay đổi đã là muộn, nhưng vẫn còn hơn không. Khi thị trường biến động, chúng ta phải điều hành chính sách linh hoạt hơn, xây dựng thương hiệu gạo không chỉ là làm gạo đặc sản như Thái Lan, Ấn Độ, mà còn phải có thương hiệu riêng cho từng doanh nghiệp.

 “Cái khó hiện nay là tổ chức sản xuất bà con nông dân còn rời rạc, theo phong trào. Cần nhanh chóng chấm dứt tình trạng một cánh đồng mấy chục giống lúa mà chỉ tập trung cấy 5 – 7 giống tốt nhất, nhất là ở ĐBSCL. Có thể chưa cần đặt mục tiêu 800 USD/tấn mà chỉ 600 USD/tấn và đầu tư cho những vùng nhất định” – GS-VS Long cho biết.

Nguồn: Theo Báo Dân Việt



Xuất khẩu gạo sang châu Phi đang gặp khó


Trong quý I 2014, xuất khẩu gạo sang châu Phi gặp rất nhiều khó khăn do sự cạnh tranh gay gắt của gạo giá rẻ từ Thái Lan, Ấn Độ

Theo Vụ Thị trường châu Phi, Tây Á, Nam Á (Bộ Công thương), năm 2013, Việt Nam đã xuất khẩu mặt hàng gạo sang 35 trên tổng số 55 nước châu Phi với tổng kim ngạch đạt 775,02 triệu USD, tăng 2% so với năm 2012.

 Gạo tiếp tục là mặt hàng xuất khẩu số 1 của nước ta tại khu vực này, chiếm 27% tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam sang châu Phi và chiếm 26% tổng kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam ra thế giới.

 Tuy nhiên, trong 3 tháng đầu năm 2014, xuất khẩu gạo của Việt Nam sang châu Phi nói chung và sang Bờ Biển Ngà và Angola nói riêng gặp rất nhiều khó khăn so với cùng kỳ năm 2013 do sự cạnh tranh gay gắt của gạo giá rẻ của Thái Lan, Ấn Độ.

 Trong quý I, Thái Lan đã xuất khẩu sang châu Phi hơn 1 triệu tấn gạo với giá thấp hơn gạo Việt từ 5 đến 10 USD/tấn. Trong khi đó gạo của Ấn Độ và Pakistan tiếp tục có được những lợi thế về cước phí vận tải thấp hơn gạo Việt Nam nên giá rẻ hơn từ 30 đến 40 USD/tấn.

 Theo Hiệp hội lương thực Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu gạo sang châu Phi đã giảm gần 63%, chỉ còn chiếm khoảng 7% tổng kim ngạch xuất khẩu của nước ta ra thế giới.

 Theo Vụ Thị trường châu Phi, khó khăn lớn nhất trong hoạt động xuất khẩu sang thị trường châu Phi chính là khâu thanh toán. Do năng lực tài chính có hạn nên nhà nhập khẩu châu Phi thường đề nghị mua gạo trả chậm từ 30 đến 90 ngày, hình thức CIF (giao hàng tại cảng đến) và không mở L/C (do chi phí cao).

 Một trở ngại nữa là doanh nghiệp hai bên thường thiếu thông tin về thị trường, đối tác của nhau. Vì vậy, để tránh rủi ro, các doanh nghiệp Việt Nam thường xuất khẩu qua các công ty trung gian quốc tế. Điều này làm cho giá gạo xuất khẩu Việt Nam đội lên, làm giảm tính cạnh tranh và đôi khi thương hiệu gạo Việt Nam không được người tiêu dùng địa phương biết đến.

 Trong khi đó, theo Tổ chức Nông lương Liên Hiệp quốc (FAO), mức tiêu thụ gạo của châu Phi vào khoảng từ 24 - 24,5 triệu tấn/năm giai đoạn 2011-2013 và mức tiêu thụ bình quân tính theo đầu người là 22,1 kg/năm.

 Với số dân hơn 1 tỷ người, nhu cầu tiêu thụ gạo ở châu Phi ngày càng lớn bởi sự tiện dụng của việc chế biến gạo so với kê và những loại ngũ cốc truyền thống khác cũng như do tỷ lệ đô thị hóa ngày càng tăng tại các nước trong khu vực này.

 Mặt khác, giá gạo không còn quá cao so với thu nhập của đại bộ phận người dân châu Phi, vì vậy gạo trở thành thức ăn phổ biến trong bữa ăn hàng ngày.

 Để hỗ trợ doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu gạo vào châu Phi, thời gian qua, Bộ Công Thương đã tổ chức các đoàn nghiên cứu chính sách và xúc tiến thương mại tại nhiều nước nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp hai bên tiếp xúc trực tiếp.

 Bộ Công Thương, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đã phối hợp với Tổ chức quốc tế Pháp ngữ (OIF) và Trung tâm Thương mại quốc tế (ITC) tổ chức cuộc gặp giữa các ngân hàng Việt Nam và châu Phi.

 Hy vọng thời gian tới, các ngân hàng sẽ tăng cường khả năng hợp tác, xác định nhu cầu của doanh nghiệp và hỗ trợ hoạt động xuất nhập khẩu một cách hiệu quả hơn.

 Tháng 3/2013, đoàn Bộ trưởng Thương mại Guinea đã vào Việt Nam ký MOU về gạo theo đó Việt Nam cung cấp cho Guinea gần 1 triệu tấn gạo, thời gian từ 2013 đến 2015.
 Tháng 8/2013, Thứ trưởng Bộ Công Thương Việt Nam và Đại sứ Liên bang Comoros đã ký MOU về thương mại gạo, theo đó mỗi năm Việt Nam sẽ cung cấp cho Comoros 60.000 tấn gạo, thời hạn từ tháng 8/2013 đến hết tháng 12 năm 2015.
 Hiện Việt Nam và Cộng hòa Congo đang trao đổi về khả năng ký kết Bản ghi nhớ về thương mại gạo giữa hai nước vào tháng 6/2014.
 Những thị trường nhập khẩu gạo nhiều nhất của Việt Nam ở châu Phi gồm: Bờ Biển Ngà (228,45 triệu USD), Ghana (182,8 triệu USD), Cameroon (60,86 triệu USD), Angola (48,72 triệu USD), Algeria(39,93 triệu USD), Mozambique (29,78 triệu USD), Madagascar (27,18 triệu USD), Guinea (17,62 triệu USD), Senegal (17,43 triệu USD), Gabon (16,6 triệu USD), Tanzania (16,10 triệu USD), Bê-nanh (15,61 triệu USD), Togo (15,40 triệu USD), Nam Phi (14,39 triệu USD), Kenya (12,97 triệu USD)...

Nguồn: Theo vov.vn



Phát triển cánh đồng lớn: Sẽ phá sản nếu lợi ích không cân bằng


Kể từ khi triển khai thí mô hình cánh đồng mẫu lớn, đến nay, chủ trương thực tế cánh đồng lớn đã ra đời, mặc dù vẫn chưa xác định rõ thế nào là “lớn” do tiêu chí và đặc điểm canh tác nông nghiệp khác nhau giữa miền Bắc và miền Nam. Mô hình này đang tiềm ẩn nhiều bất ổn do chưa điều hòa được lợi ích của các “nhà” khi cùng triển khai. 

 Nhiều bất cập…

 Ngày 25/10/2013, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 62/2013/QĐ-TTg về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn. Tuy nhiên, đến nay, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn vẫn chưa thể ra thông tư hướng dẫn. Nguyên nhân chủ yếu do khó khăn trong việc xác định tiêu chí cánh đồng lớn và tiêu chí hỗ trợ bởi sự khác nhau về năng lực và cách thức sản xuất lúa gạo giữa các vùng. Đồng thời nguồn ngân sách địa phương hỗ trợ rất hạn chế, thủ tục triển khai lại phức tạp, bởi quy định doanh nghiệp được hỗ trợ là phải có hợp đồng trực tiếp hoặc liên kết với các doanh nghiệp khác để cung ứng vật tư, dịch vụ đầu vào phục vụ sản xuất, gắn với mua nông sản của hộ nông dân hoặc tổ chức đại diện của nông dân trong dự án cánh đồng lớn. Thêm vào đó, phải có vùng nguyên liệu đảm bảo ít nhất 50% nhu cầu nguyên liệu và có hệ thống sấy, kho chứa, cơ sở chế biến bảo đảm yêu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp theo hợp đồng.

 Vấn đề ở đây là, doanh nghiệp nông nghiệp không thể đủ vốn để đầu tư cho hệ thống sấy và kho bãi lưu trữ. Hệ thống này chỉ được sử dụng 1 năm 2 vụ, còn nhiều tháng không sử dụng. Lý do chủ yếu là để tránh sâu bệnh, sản xuất nông nghiệp triển khai gieo sạ đồng loạt trên toàn vùng. Khi sạ đồng loạt thì thu hoạch cũng đồng loạt. Với diện tích hàng triệu ha lúa được thu hoạch đồng loạt, không thể có đủ các cơ sở sấy và xay sát đảm bảo chất lượng cho thu hoạch. Hơn nữa, để đầu tư mở rộng xây thêm nhà máy sấy thì chẳng ngân hàng nào muốn cho vay, vì nhà máy chỉ sử dụng công suất cho 1 năm 2 vụ còn phần lớn là thời gian chết không sử dụng. Ngay cả các công ty có vốn đầu tư từ các quỹ nước ngoài lớn như Công ty Thuốc bảo vệ thực vật An Giang cũng không đủ năng lực để triển khai sấy và xay sát đồng loạt. Khi đã không đủ năng lực thì đương nhiên không đủ điều kiện được hỗ trợ theo tiêu chí hỗ trợ của cánh đồng lớn. Tương tự, cùng với một khoản tiền đầu tư, nhà doanh nghiệp sẽ đầu tư vào lĩnh vực có khả năng sinh lời cao thu hồi vốn nhanh thay vì đầu tư vào xây dựng nhà máy sấy.

 Những rủi ro

 Điều quan trọng, mô hình cánh đồng lớn tiềm ẩn rất nhiều rủi ro. Chẳng hạn, chỉ cần một hợp đồng đầu ra mất khả năng thanh toán hay vụ mùa bị ảnh hưởng bởi thời tiết và thiên tai thì cũng sẽ ảnh hưởng đến các cam kết của việc triển khai. Không kể đến doanh nghiệp sản xuất lại không phải là nhà phân phối lúa gạo nên không kiểm soát được thị trường đầu ra. Các doanh nghiệp vùng đồng bằng sông Cửu Long hoàn toàn không tính đến vấn đề biến đổi khí hậu và nước biển dâng sẽ ảnh hưởng đến việc sản xuất và các biện pháp phòng tránh thiên tai là rất yếu. Việc không kiểm soát được nguồn gốc giống lúa và thuốc bảo vệ thực vật có thể kéo theo sản phẩm không đáp ứng được yêu cầu của thị trường, đặc biệt khi xuất khẩu gạo vào các thị trường khó tính. Việc bị dừng hay hủy bỏ các đơn hàng nhập khẩu có thể kéo theo dừng lại toàn bộ chuỗi sản xuất theo mô hình cánh đồng lớn.

 Đối với vấn đề hỗ trợ đầu vào cho sản xuất lúa theo mô hình cánh đồng lớn, ngân hàng thương mại không muốn cho doanh nghiệp vay để doanh nghiệp mua lúa và phân đạm cung cấp cho bà con nông dân vì người nông dân có thể phá hợp đồng để bán lúa với giá cao hơn cho thương lái hoặc người nông dân bị mất mùa thì ngân hàng cũng không có khả năng thu hồi tiền từ doanh nghiệp do không có tài sản thế chấp. Thêm nữa, do Việt Nam chưa phát triển thị trường tương lai và thị trường kỳ hạn nên các công cụ tự bảo hiểm trong lĩnh vực nông nghiệp chưa được áp dụng. Hiện nay, các doanh nghiệp bảo hiểm nông nghiệp đều thua lỗ và không ai đảm bảo cho nông dân hay doanh nghiệp khi bị mất mùa hay thiên tai.

 Chia sẻ giữa các bên thiếu sự bền chặt 

 Ngay trong vụ lúa Đông Xuân 2013-2014, tình trạng doanh nghiệp phá vỡ hợp đồng với nông dân lại tiếp diễn. Đơn cử ở xã Tân Hồng, thị xã Hồng Ngự, Đồng Tháp phải thu hoạch lúa trong tình thế bán đổ bán tháo. Lúa chín rực ngoài đồng, thất thoát nhiều, năng suất giảm. Trong khi đó, thương lái ra sức ép giá dù giá lúa hiện nay đang rất thấp. Sở dĩ bà con nông dân rơi vào tình cảnh này là do Công ty CP Docimexco không thực hiện hợp đồng mua lúa đã ký kết hồi đầu vụ. Việc doanh nghiệp và người nông dân không tìm được tiếng nói chung một lần nữa cho thấy sự cộng đồng trách nhiệm, chia sẻ giữa các bên còn yếu, chưa bền chặt.

 Lâu nay, việc doanh nghiệp phá vỡ hợp đồng với nông dân và ngược lại nông dân không bán lúa cho doanh nghiệp theo hợp đồng vẫn còn diễn ra. Điều này cho thấy cung cách làm ăn thiếu sòng phẳng, chỉ thấy lợi trước mắt của cả đôi bên. Trong lộ trình xây dựng cánh đồng lớn hay đề án tái cơ cấu nông nghiệp thì vấn nạn này hiện là một cản trở lớn. Một số doanh nghiệp ký hợp đồng liên kết, bao tiêu sản phẩm của nông dân chủ yếu là nhờ đó để doanh nghiệp tận dụng nguồn vốn vay ưu đãi của Nhà nước để tập trung xây dựng kho bãi, hệ thống say xát, sấy… của doanh nghiệp; trong khi vấn đề bao tiêu sản phẩm cho bà con nông dân hưởng giá tốt họ không thực sự quan tâm.

 Nhiều ý kiến thẳng thắn cho rằng, mô hình cánh đồng lớn “sẽ không lớn được” nếu không cân bằng quyền lợi giữa doanh nghiệp và nông dân trong chuỗi sản xuất lúa gạo. Thực tế đang diễn ra ở nhiều địa phương khu vực đồng bằng sông Cửu Long chỉ là: Cánh đồng lớn chỉ tăng thêm lợi nhuận cho doanh nghiệp, còn nông dân thì lợi nhuận tăng không đáng kể.

 Mô hình cánh đồng lớn đang đứng trước nguy cơ bị phá sản bởi chính sách hoàn toàn không đề cao vai trò của nhà đầu tư vốn hay chủ ngân hàng cho vay, bởi theo tính logic, người ta sẽ chỉ đầu tư vào nơi có khả năng sinh lời cao nhất và rủi ro thấp nhất.

 Cũng tương tự, cho vay phải tính đến khả năng có thể thu hồi vốn tốt nhất. Văn phòng Ban chỉ đạo Trung ương Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới sẽ tổ chức Hội thảo Cánh đồng lớn vào sáng 25/4/2014 tại Trung tâm tổ chức hội nghị Hoa Sứ, quận Ninh Kiều, TP. Cần Thơ.

Nguồn: Theo Báo Công thương



Hỗ trợ chuyển đổi từ trồng lúa sang trồng màu tại vùng ĐBSCL


Thủ tướng Chính phủ vừa có ý kiến về chính sách hỗ trợ giống để chuyển đổi từ trồng lúa sang trồng cây màu tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long theo đề nghị của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. 

 Theo đó, ngân sách Trung ương sẽ hỗ trợ kinh phí mua hạt giống cây trồng để thực hiện chuyển đổi từ trồng lúa sang trồng cây màu tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long áp dụng cho các đối tượng là hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ gia đình, cá nhân.

 Việc hỗ trợ áp dụng trong phạm vi vụ Xuân Hè, vụ Hè Thu, vụ Thu Đông năm 2014 và vụ Đông Xuân 2014-2015 tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long và đối với các loại cây trồng chuyển đổi như: ngô, đậu tương, vừng, lạc, dưa, rau các loại.

 Thủ tướng cũng quy định rõ điều kiện hỗ trợ áp dụng cho hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ gia đình, cá nhân thực hiện chuyển đổi từ trồng lúa sang trồng cây màu được UBND xã xác nhận đã thực hiện chuyển đổi cây trồng trong vụ Xuân Hè, vụ Hè Thu, vụ Thu Đông năm 2014 và vụ Đông Xuân 2014 - 2015 trên diện tích đất trồng lúa; Việc chuyển đổi đáp ứng các điều kiện chuyển đổi từ trồng lúa sang trồng cây hàng năm theo hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

 Mức hỗ trợ được quy định cụ thể là hỗ trợ chi phí về giống để chuyển đổi, nhưng không vượt quá 2 triệu đồng/1 ha. Trên cùng diện tích chuyển đổi chỉ được hỗ trợ một lần; Thủ tướng giao Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phổ trực thuộc Trung ương cụ thể hóa mức hỗ trợ đối với từng loại cây trồng trên địa bàn.

 Đối với cơ chế hỗ trợ, ngân sách Trung ương hỗ trợ 100% cho các địa phương trong vùng để thực hiện chính sách hỗ trợ chuyển đổi từ trồng lúa sang trồng cây màu. Riêng thành phố Cần Thơ được hỗ trợ 50%. Trường hợp hụt thu do nguyên nhân khách quan hoặc tăng thu thấp, sau khi đã sử dụng 50% số tăng thu ngân sách địa phương (nếu có) và 50% dự phòng ngân sách địa phương theo dự toán được Thủ tướng giao mà vẫn còn thiếu thì ngân sách Trung ương sẽ hỗ trợ phần chênh lệch thiếu. Nguồn hỗ trợ là nguồn dự phòng ngân sách Trung ương.

 Về tổ chức thực hiện, Thủ tướng giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì hướng dẫn việc thực hiện và phối hợp với các Bộ, ngành liên quan kiểm tra, giám sát việc thực hiện Quyết định này;

 Bộ Tài chính có nhiệm vụ bố trí kinh phí và thực hiện hỗ trợ địa phương để thực hiện chuyển đổi từ trồng lúa sang cây trồng màu trên đất trồng lúa theo quy định tại Quyết định này và tổng hợp kết quả thực hiện báo cáo Thủ tướng.

 Thủ tướng giao UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tìm hiểu thị trường, khả năng tiêu thụ sản phẩm để xác định chủng loại cây trồng, diện tích chuyển đổi phù hợp; hướng dẫn nông dân sử dụng giống mới, quy trình kỹ thuật chuyển đổi; Xác định mức chi phí về giống cho từng loại cây trồng trên địa bàn; Căn cứ nhu cầu thực tế về chuyển đổi trên đất lúa của địa phương, các tỉnh, thành phố nghiên cứu xem xét có chính sách hỗ trợ bổ sung ngoài chính sách quy định tại Quyết định này; Tổng hợp, báo cáo Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn vê kết quả thực hiện chíah sách trên địa bàn.

 Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 22/4/2014.

Nguồn: Theo Thời báo ngân hàng



Thứ Tư, ngày 23 tháng 4 năm 2014

Vụ lúa hè thu 2014: Cần Thơ chủ động phòng chống dịch hại, giảm chi phí sản xuất

Đến nay, nông dân TP Cần Thơ cơ bản thu hoạch xong vụ lúa đông xuân 2013-2014 và đã bắt tay làm vệ sinh đồng ruộng, gieo sạ vụ hè thu 2014. Để vụ sản xuất lúa hè thu đạt hiệu quả cao, ngành nông nghiệp thành phố tích cực khuyến cáo nông dân áp dụng đồng bộ các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, chủ động phòng tránh các loại dịch hại lúa, giảm các chi phí nhằm giảm giá thành sản xuất…

Lúa hè thu sinh trưởng tốt

Vụ lúa hè thu 2014 TP Cần Thơ có kế hoạch xuống giống khoảng 80.000 ha lúa. Dự kiến lịch thời vụ xuống giống gồm 2 đợt: đợt 1 từ ngày 28-3 đến ngày 5-4-2014 và đợt 2 từ ngày 27-4 đến ngày 2-5-2014. Tuy nhiên, tùy vào điều kiện thực tế, từng địa phương xây dựng lịch thời vụ và tổ chức xuống giống tập trung đồng loạt, né rầy. Ngoài ra, trên những chân ruộng chủ động được nước, nông dân có thể xuống giống tập trung, đồng loạt, theo từng khu vực đê bao theo khuyến cáo của ngành nông nghiệp, tránh xuống giống lẻ tẻ, manh mún, thời vụ kéo dài. Theo dõi chặt chẽ diễn biến rầy thành trùng di trú, thực hiện tốt biện pháp dùng nước che chắn cây lúa giai đoạn dưới 20 ngày tuổi, hạn chế khả năng đẻ trứng và truyền bệnh của rầy nâu. Ngành nông nghiệp thành phố cũng yêu cầu các địa phương chú ý đến phản ứng của các giống lúa đối với các đối tượng rầy nâu, bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá để có khuyến cáo chỉ đạo phù hợp. Mỗi vùng nên bố trí 4-5 giống chủ lực. Khuyến cáo nông dân sử dụng các giống lúa đặc sản, chất lượng cao cho vụ hè thu 2014 như: OM 2517, OM 4900, OM 4218, OM 5451 và Jasmine 85, đồng thời hạn chế gieo trồng giống IR50404. Mặt khác, các giống lúa đặc sản, chất lượng cao đã được quy hoạch thành vùng sản xuất, cần được chủ động xây dựng kế hoạch sản xuất và chăm sóc riêng để quản lý dịch hại, bảo vệ năng suất, sản lượng và an toàn cho sản xuất các vụ sau.

Theo Sở NN& PTNT TP Cần Thơ, đến ngày 8-4, nông dân trên địa bàn thành phố đã xuống giống được hơn 61.000 ha. Nhìn chung, các trà lúa hè thu sớm đang sinh trưởng khá tốt, giúp nông dân phần nào nhẹ bớt công chăm sóc. Một số loại dịch hại có xuất hiện nhưng với mật số thấp, trong tầm kiểm soát. Ông Quang Thành Đô ở khu vực Thới Long, phường Thới An Đông, quận Bình Thủy, TP Cần Thơ, cho biết: “Vụ hè thu, 2 công lúa 20 ngày tuổi của tôi đang phát triển khá tốt, dù mới bón phân 1 đợt. Sâu rầy có xuất hiện nhưng không đáng kể”.

Những năm qua, cùng với tăng cường chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất của ngành chức năng, nông dân trồng lúa tại TP Cần Thơ rất quan tâm thực hiện tốt việc cách ly thời vụ, làm vệ sinh đồng ruộng để tiêu diệt các mầm sâu bệnh và thuận tiện quản lý nước, chăm sóc lúa. Bên cạnh đó, nông dân cũng quan tâm ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, như áp dụng các quy trình kỹ tthuật “3 giảm, 3 tăng”, “1 phải, 5 giảm”… nhằm giảm các chi phí sản xuất đầu vào. Ông Phạm Văn Diêm ở ấp Phụng Phụng, xã Thạnh Tiến, huyện Vĩnh Thạnh, cho biết: Vụ lúa hè thu này, gia đình ông chọn giống lúa 0M 4218. Cũng như ông, đa số nông dân đều chọn gieo sạ các giống lúa chất lượng cao do tình hình tiêu thụ lúa thời gian qua có những bất ổn. Nhất là vụ hè thu trước lúa IR50504 bị doanh nghiệp chê phẩm chất gạo kém, nông dân khó tiêu thụ. Bà Nguyễn Châu Linh ở xã Trường Thành, huyện Thới Lai, TP Cần Thơ, cho biết: “Nhờ chọn mua lúa giống đạt chất lượng và làm vệ sinh đồng ruộng tốt nên ruộng lúa của tôi lên rất đều. Tôi ít tốn công giặm lúa trong vụ hè thu này…”.

Chủ động phòng tránh dịch hại

Do nhiều loại sâu bệnh, dịch hại trên lúa và thời tiết diễn biến khá phức tạp nên nông dân trồng lúa khá lo lắng nhiều rủi ro có thể xảy ra. Đặc biệt, rầy nâu và một số loại sâu bệnh (như: sâu cuốn lá, muỗi hành, bệnh đạo ôn…) rất dễ có nguy cơ bùng phát trong vụ hè thu này. Ông Nguyễn Văn Hưng ở ấp Thắng Lợi, xã Thạnh Lộc, huyện Vĩnh Thạnh, cho biết: “Bên cạnh các loại sâu bệnh cũ, sự xuất hiện ngày càng phổ biến của muỗi hành, gây hại làm cho cây lúa bị lụn và se đọt, không trổ được. Những cây lúa con tẻ ra từ cây mẹ bị nhiễm muỗi hành cũng trổ bông không đẹp và bị suy giảm năng suất nghiêm trọng. Để phòng tránh đối tượng dịch hại này, nông dân đang rất cần sự hỗ trợ về thông tin và các biện pháp kỹ thuật từ các ngành chức năng…”.

Thống kê của ngành nông nghiệp TP Cần Thơ, hiện có khoảng 2.000 ha lúa hè thu 2014 trên địa bàn có xuất hiện rầy nâu, nhưng mật độ nhẹ đến trung bình. Sâu cuốn lá với mật số thấp cũng xuất hiện trên hơn 10 ha và chuột cắn phá nhẹ hơn 11 ha… Bà Nguyễn Thị Kiều, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT TP Cần Thơ, cho biết: “Trong giai đoạn đầu, lúa có khả năng phục hồi rất tốt. Vì vậy, với mật số xuất hiện và gây hại thấp của rầy nâu, sâu cuốn lá…nông dân cần tiếp tục theo dõi, không nên vội phun thuốc, nhằm bảo vệ thiên địch, hạn chế bộc phát sâu rầy trong giai đoạn sau. Trong trường hợp cần thiết, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) phải đúng cách và trong danh mục cho phép, ưu tiên sử dụng các chế phẩm sinh học (như nấm xanh) để phòng trừ gây nâu, sử dụng các loại thuốc sinh học và biện pháp đánh bắt chuột an toàn, không nên sử dụng thuốc hóa học và dùng điện”. Theo bà Nguyễn Thị Kiều, để hạn chế khả năng bộc phát muỗi hành gây hại lúa, cần nâng cao sức đề kháng của cây lúa thông qua việc đảm bảo nước tưới, bón phân cân đối và bảo vệ tốt các loài thiên địch trong giai đoạn phát triển đầu của cây lúa. Bởi nếu không chủ động phòng tránh từ trước để lúa bị bệnh mới tăng cường bón phân xịt thuốc dễ gây tốn kém, lúa lại khó phục hồi. Các địa phương cần khuyến cáo nông dân hạn chế sử dụng các loại thuốc để xử lý giống và phun xịt thuốc cho lúa trong giai đoạn đầu. Chú ý tăng cường bón kali cho lúa trong đợt 1 (ở giai đoạn lúa 7-10 ngày tuổi) để tăng cường sức chống chịu của cây lúa.

Để giúp nông dân giảm chi phí sử dụng phân thuốc trong vụ hè thu 2014, ngành nông nghiệp thành phố lưu ý nông dân cần tiết kiệm, không bón phân xịt thuốc theo kiểu trừ hao để phòng ngừa sâu bệnh. Bón phân cho lúa vụ hè thu cần lưu ý cho nước vào ruộng lúa ở mức vừa phải để lúa hấp thu tốt và hạn chế phân bón bốc hơi. Cần dựa vào bảng so màu lá lúa để bón phân một cách hợp lý, tránh bón thừa phân đạm, vừa lãng phí, vừa dễ gây phát sinh nhiều loại sâu bệnh cho lúa.

Bài, ảnh: Khánh Trung/ Báo Cần Thơ



Yên Bái: Tháng cao điểm phòng trừ sâu bệnh hại lúa

Vụ đông xuân năm nay, toàn tỉnh Yên Bái đưa vào sản xuất 18.546ha lúa xuân. Nhìn chung, các trà lúa sinh trưởng và phát triển tốt, hiện trà 1 đang trong giai đoạn cuối đẻ nhánh đến đứng cái, trà 2 ở giai đoạn đẻ nhánh. Theo quy luật hàng năm, trong tháng 4 thường xuất hiện cao điểm sâu bệnh hại lúa


Bước vào sản xuất vụ đông xuân, nhà nông đứng trước nhiều khó khăn do diễn biến thời tiết phức tạp, giá giống, giá phân bón và vật tư nông nghiệp tiếp tục leo thang, nhất là các giống lúa lai, đã ảnh hưởng đến việc đầu tư sản xuất của người dân. Đợt rét đậm, rét hại kéo dài đúng vào thời vụ gieo trồng lúa xuân. Để tránh rét cho lúa đông xuân, ngành nông nghiệp khuyến cáo các địa phương hạn chế tối đa gieo cấy trà xuân sớm, tập trung gieo cấy trà xuân chính vụ và mở rộng tối đa trà xuân muộn.

Bên cạnh đó, các địa phương cũng chuẩn bị giống dự phòng bằng những giống lúa ngắn ngày để ứng phó kịp thời nếu gặp điều kiện thời tiết rét đậm, rét hại. Tích cực cung ứng giống, lấy nước đổ ải và tăng cường chỉ đạo về cơ cấu giống và lịch thời vụ, các địa phương đưa vào gieo cấy 18.546ha lúa đông xuân, vượt 346,6ha so với kế hoạch. Trong đó, cơ cấu giống lúa lai chiếm 50% - 55%, chủ yếu là giống Nhị ưu 838, Nhị ưu 63, Syn6; lúa thuần chất lượng cao tập trung vào các giống: Hương Chiêm, DDS1, HT1, KD18…

Ngay sau khi gieo cấy hết diện tích, ngành nông nghiệp, các huyện, thị đã chỉ đạo nông dân tập trung chăm sóc nên cây lúa sinh trưởng và phát triển tốt. Đến nay, trà 1 đang trong giai đoạn cuối đẻ nhánh đến đứng cái, trà 2 ở giai đoạn đẻ nhánh. Phòng trừ sâu bệnh hại lúa với vai trò "đứng mũi chịu sào", ngay từ đầu vụ, Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh đã thường xuyên theo dõi diễn biến tình hình sâu bệnh, làm tốt công tác dự báo và có biện pháp chỉ đạo phòng trừ kịp thời nên dịch bệnh được khống chế.

Theo báo cáo của Chi cục, thời gian vừa qua, trên đồng ruộng chỉ xuất hiện lẻ tẻ hiện tượng các loại sâu bệnh hại lúa như: ốc bươu vàng diện tích nhiễm 35ha; ruồi diện tích bị nhiễm 107ha; bệnh đạo ôn diện tích nhiễm 17ha; các bệnh nghẹt rễ, bọ xít đen gây hại nhẹ.

Tuy nhiên, dựa vào quy luật hàng năm, tháng 4 và đầu tháng 5 là tháng cao điểm sâu bệnh hại lúa. Tình hình thời tiết tiếp tục có những diễn biến phức tạp, mưa nắng bất thường sẽ là điều kiện thuận lợi cho sâu bệnh phát sinh gây hại trên diện rộng. Trong đó, nông dân cần tập trung đề phòng: bệnh đạo ôn sẽ tiếp tục gây hại trên các trà lúa, bệnh thường phát sinh gây hại trong điều kiện thời tiết ấm, trời âm u, ẩm độ không khí cao và hại nặng trên các giống như: lúa nếp, lúa chất lượng như Nhị ưu 838…; bệnh khô vằn thường xuất hiện trong điều kiện nhiệt độ và ẩm độ cao, khi cây lúa ở giai đoạn cuối đẻ nhánh đến đứng cái và hại mạnh từ giai đoạn làm đòng đến cuối vụ. Rầy nâu, rầy lưng trắng thường xuất hiện từ trung tuần tháng 4 đến cuối tháng 4 và gây hại chủ yếu trên lúa xuân sớm, xuân trung giai đoạn làm đòng - trỗ, ngậm sữa, lúa xuân muộn giai đoạn đòng. Ngoài ra, bà con cần thường xuyên theo dõi và phòng trừ các đối tượng như: sâu cuốn lá nhỏ, sâu đục thân, bọ xít dài, bệnh bạc lá, đốm sọc vi khuẩn.

Chị Hà Thị Liêm ở xã Thanh Lương huyện Văn Chấn (Yên Bái) cho biết: "Vụ xuân này, gia đình tôi cấy 4 sào lúa bằng các giống lúa ngắn ngày. Thời tiết thuận lợi, cây lúa sinh trưởng và phát triển tốt nhưng gần đây, trên đồng ruộng xuất hiện ốc bươu vàng gây hại lúa. Thường xuyên kiểm tra đồng ruộng nên gia đình tôi đã diệt trừ kịp thời. Từ nay đến cuối vụ, gia đình thường xuyên kiểm tra đồng ruộng, phát hiện sớm và phòng trừ kịp thời sâu bệnh vì đây là thời điểm ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất lúa".

Để vụ đông xuân đạt năng suất cao, nông dân không nên chủ quan, lơ là mà cần tích cực thăm đồng, chủ động phát hiện kịp thời sâu bệnh hại lúa, có biện pháp phòng trừ hiệu quả. Từ nay đến cuối vụ, Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh tiếp tục chỉ đạo nông dân tập trung chăm sóc tốt cây lúa, làm tốt công tác dự báo tình hình sâu bệnh và phát hiện sớm, xử lý kịp thời khi có sâu bệnh xuất hiện; chủ động nguồn thuốc bảo vệ thực vật phòng khi có dịch xảy ra.

Văn Thông/ Báo Yên Bái



Thái Bình: Mô hình sản xuất lúa giảm phát thải khí nhà kính tại Thanh Tân

Vụ xuân 2014, được sự hỗ trợ của Trung tâm Khuyến nông quốc gia, Viện Môi trường nông nghiệp, Trung tâm Khảo nghiệm Khuyến nông Khuyến ngư (TTKNKNKN) Thái Bình xây dựng mô hình sản xuất lúa giảm thiểu phát thải khí nhà kính tại xã Thanh Tân, huyện Kiến Xương. Mô hình được thực hiện trên giống lúa TBR45 với quy mô 10 ha.


Ðoàn kiểm tra của Ðại sứ quán Mỹ đánh giá kết quả mô hình.

Các hộ nông dân tham gia mô hình đã được các chuyên gia tập huấn kỹ thuật sản xuất lúa giảm phát thải khí nhà kính bằng phương pháp tưới ướt - khô xen kẽ thay vì việc canh tác lúa lúc nào cũng có nước như hiện nay. Theo IRRI, cây lúa không phải lúc nào cũng cần ngập nước và chỉ cần bơm nước vào ruộng tối đa 5cm. Tuần đầu tiên sau sạ giữ mực nước bão hòa đủ ẩm. Sau đó mực nước trong ruộng giữ cao khoảng 1 - 3cm theo giai đoạn phát triển của cây lúa và giữ liên tục cho đến khi bón phân lần 2. Giai đoạn từ 25 - 60 ngày cần giữ nước vừa đủ. Cần đặt ống theo dõi mức nước trong ruộng. Khi nước xuống thấp 15cm thì bơm nước vào ruộng ngập tối đa 5cm. Ðây là giai đoạn lúa dễ bị bệnh khô vằn, mực nước không cao làm hạch nấm khô vằn sẽ không phát tán, hạn chế lây lan bệnh. Giai đoạn lúa 60 - 65 ngày bơm nước 1 - 3 cm trước khi bón phân thúc đón đòng hạn chế ánh sáng làm phân hủy và bốc hơi phân bón. Từ sau đó giữ nước đều trong ruộng đến khi thu hoạch. Với phương pháp tưới nước “tưới ướt - khô xen kẽ” giúp rễ ăn sâu hạn chế đổ ngã, hạn chế sự bốc hơi phân bón giảm thiểu ô nhiễm môi trường...

Mô hình đã được các chuyên gia lấy mẫu đất, mẫu khí, mẫu nước để nghiên cứu, đồng thời đặt ống để theo dõi mực nước trong ruộng. Qua đó bà con nông dân nắm bắt được khi nào cần tưới nước, tưới ngập bao nhiêu là đủ cho lúa phát triển, nên bón phân độ ẩm như thế nào để giảm tối đa lượng khí NH3. Phương pháp này giúp sử dụng nước tiết kiệm tối đa, hạn chế các loại nấm bệnh, rễ lúa đâm sâu hấp thu được nhiều dinh dưỡng, chống đổ tốt tạo năng suất lúa cao và phát triển bền vững.

Ðầu tháng 4 vừa qua, đoàn chuyên gia của Phòng Nông nghiệp Ðại sứ quán Mỹ, Trung tâm Khuyến nông quốc gia, Viện Môi trường đã đi kiểm tra đánh giá kết quả bước đầu của mô hình. Thông qua kiểm tra thực tế đồng ruộng, đoàn kiểm tra đánh giá mô hình bước đầu đạt hiệu quả tốt. Thông qua việc giữ nước vừa phải giúp lúa đẻ nhánh nhanh, hấp thu phân tốt, bộ rễ phát triển, hạn chế sâu bệnh hơn hẳn so với phương pháp tưới nước truyền thống.

Mô hình sẽ được cán bộ Trạm khuyến nông Kiến Xương tiếp tục chỉ đạo theo dõi sát sao để đạt hiệu quả cao nhất, qua đó là cơ sở để nhân rộng ra nhiều địa phương trong tỉnh.

Mai Thị Thu Hương - Trung tâm KNKNKN tỉnh Thái Bình (Báo Thái Bình)



Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More