Chương trình theo dõi lúa ĐB sông Hồng

Ứng dụng công nghệ viễn thám đa thời gian trong công tác theo dõi lúa trên toàn vùng đồng bằng sông Hồng. Báo cáo hàng tháng được trình lên Bộ trưởng Bộ NN và PTNT.

Sử dụng tư liệu ảnh vệ tinh độ phân giải cao về thời gian

Tư liệu ảnh vệ tinh MODIS độ phân giải 250m chụp hàng ngày được thu nhận và xử lý tạo các tổ hợp 8 và 16 ngày phục vụ công tác nghiên cứu.

Nghiên cứu hạn hán hoặc ngập lụt

Bên cạnh công tác theo dõi lúa, chương trình cũng theo dõi các thảm họa thiên nhiên ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động sản xuất nông nghiệp như hạn hán, ngập lụt...

Theo dõi sâu bệnh

Theo dõi diện tích lúa bị sâu bệnh bằng phương pháp viễn thám, từ đó đưa ra mức độ cảnh báo về năng suất, chất lượng của mùa vụ.

Theo dõi quá trình xâm thực mặn

Phương pháp viễn thám được sử dụng trong công tác theo dõi xâm thực mặn từ biển gây ảnh hưởng đến quá trình canh tác sản xuất nông nghiệp và đời sống người dân...

Báo cáo kết quả trực tuyến

Các báo cáo được đăng tải hàng tháng trên trang web http://theodoilua.blogspot.com cùng bộ bản đồ trực tuyến xây dựng theo công nghệ WebGIS...

Thứ Ba, ngày 26 tháng 7 năm 2016

Xuất khẩu gạo vẫn trầm lắng do thiếu nhu cầu tiêu thụ mới


Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, giá lúa gạo tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long có xu hướng giảm nhẹ do thiếu vắng nhu cầu tiêu thụ mới. Xuất khẩu gạo Việt Nam cũng đang gặp khó khăn do bị cạnh tranh bởi gạo giá rẻ từ Thái Lan thông qua các cuộc đấu thầu bán gạo tồn kho. 

Trong tuần từ 11 - 15/7, giá gạo 5% tấm chế biến từ lúa Hè Thu giảm xuống còn 360 – 365 USD/tấn (FOB cảng Sài Gòn), so với 360 – 370 USD/tấn tuần trước. Nguyên nhân khách hàng không muốn mua gạo vào thời điểm này do chờ đợi giá gạo Thái Lan giảm xuống.

 Sự trầm lắng của thị trường xuất khẩu gạo từ suốt quý 2/2016 đến nay và khả năng còn tiếp diễn trong thời gian tới là nguyên nhân chính khiến Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) giảm chỉ tiêu xuất khẩu gạo từ 6,5 triệu tấn xuống còn 5,65 triệu tấn, giảm 14% so với năm 2015. Sau nhiều năm luôn duy trì số lượng gạo xuất khẩu chính ngạch từ trên 6 triệu tấn trở lên, năm nay, nhiều khả năng xuất khẩu gạo của nước ta chỉ ở mức dưới 6 triệu tấn do những khó khăn lớn về thị trường.

 Những thị trường tập trung của gạo Việt Nam chưa thấy dấu hiệu sẽ sớm nhập khẩu thêm gạo trong tương lai gần. Cụ thể, cuối tháng 6/2016, Cơ quan Lương thực quốc gia Philippin công bố có đủ gạo trong những tháng giáp hạt (tháng 7 - 9), đồng nghĩa với việc nước này chưa vội nhập khẩu gạo sau khi đã nhận đủ lượng gạo của những đợt mở thầu cuối 2015. Indonesia cũng chưa quay lại thị trường gạo... Còn thị trường lớn nhất của gạo Việt Nam là Trung Quốc (chiếm gần 35% lượng gạo xuất khẩu của Việt nam trong 6 tháng đầu năm), sức mua hiện đang giảm.

 Bên cạnh sự ảm đạm của thị trường do nhu cầu yếu, thiếu các hợp đồng tập trung, xuất khẩu gạo còn đang phải đối mặt với những khó khăn về tỷ giá. Châu Phi là thị trường trong 6 tháng đầu năm nay tăng 10,75% so với cùng kỳ 2015, nhưng một số doanh nghiệp cho rằng sắp tới xuất khẩu gạo sang nhiều nước thuộc châu lục này sẽ gặp khó khăn do đồng Euro mất giá so với đồng USD. Đồng NDT yếu cũng đang cản trở các doanh nghiệp Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu gạo sang Trung Quốc, dù nước này vẫn đang có nhu cầu nhập khẩu nhiều gạo.

 Trên thị trường châu Á, giá gạo xuất khẩu tuần qua tăng lên tại Ấn Độ do nguồn cung bị thắt chặt và đồng Rupee vững, trong khi tại Thái Lan và Việt Nam giá gạo giảm trước các cuộc đấu thầu lớn. Nhìn chung, giá gạo châu Á đang chịu sức ép do Thái Lan đang nỗ lực tìm cách giải phóng lượng dự trữ khổng lồ.

 Tại Thái Lan, chính phủ đang chào bán 3,81 triệu tấn gạo trong tháng 7/2016, số lượng này cao hơn nhiều so với 2,79 triệu tấn đã bán ra trong năm 2016. Trong tổng số gạo bán lần này có 2,18 triệu tấn sẽ bán trực tiếp cho các nhà xuất khẩu, 730.000 tấn bán cho nhu cầu trong nước và số còn lại là gạo kém chất lượng bán cho các công ty sử dụng vì mục đích khác.

 Tuần qua, giá gạo tiêu chuẩn 5% tấm của Thái Lan cũng giảm nhẹ xuống còn 420 – 435 USD/tấn, so với 420 – 438 USD/tấn tuần trước đó, bất chấp các giao dịch bán gạo đồ cho châu Phi mới đây. Các thương nhân dự đoán các cuộc đấu thầu bán gạo vào ngày 25/7 tới đây sẽ kéo giá giảm sâu hơn nữa./.

 Nguồn: Theo dangcongsan.vn



Nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu gạo


Gạo là một trong những mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế. Tuy nhiên, trước diễn biến khó lường của thị trường gạo thế giới, hoạt động xuất khẩu gạo Việt Nam đang gặp nhiều khó khăn, thách thức. 

Nhiều năm gần đây, ngành gạo Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc và đạt nhiều thành quả đáng ghi nhận; gạo của Việt Nam đã có mặt tại trên 135 quốc gia và vùng lãnh thổ. Theo thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam, trong 3 năm từ 2010 - 2012, lượng gạo xuất khẩu của nước ta liên tục tăng qua từng năm, luôn đạt trên 6,8 triệu tấn/năm, và đạt mức kỷ lục xuất khẩu hơn 8 triệu tấn vào năm 2012. Tuy nhiên, kể từ năm 2013, thị trường gạo thế giới với nhiều biến động khó lường, đã tác động không nhỏ tới thành tích xuất khẩu gạo của nước ta. Lượng gạo xuất khẩu liên tục giảm qua từng năm, chẳng hạn, như năm 2014, Việt Nam chỉ xuất khẩu được 6,3 triệu tấn. Năm 2015, theo báo cáo của Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) lượng gạo xuất khẩu tuy có cao hơn năm 2014, đạt 6,568 triệu tấn, nhưng vẫn thấp hơn mức bình quân chung của các năm 2010 - 2012.

 Điểm đáng chú ý, bước sang năm 2016, xuất khẩu gạo của Việt Nam tiếp tục gặp nhiều khó khăn. Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, xuất khẩu gạo của Việt Nam trong 6 tháng năm 2016 chỉ đạt khoảng 2,69 triệu tấn, giảm 9,8% về khối lượng. Trước diễn biến này, nhiều ý kiến cho rằng, dự kiến cả năm 2016 khả năng Việt Nam chỉ xuất khẩu được 5,56 triệu tấn.

 Thực tế cho thấy, sau khi trải qua cuộc khủng hoảng giá lương thực năm 2008, nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có các thị trường truyền thống trọng điểm của Việt Nam như Indonesia, Philppines, Malaysia,… đã có những bước đi thay đổi chính sách đối với mặt hàng có liên quan tới an ninh lương thực của họ. Nhiều quốc gia đã và đang thực hiện nhiều biện pháp nhằm nâng cao năng lực sản xuất lúa gạo trong nước nhằm tăng cường khả năng tự chủ về lương thực, đa dạng hoá nguồn cung để không bị phụ thuộc vào nguồn cung từ một quốc gia nhất định; giãn thời gian nhập khẩu hoặc nhập khẩu cầm chừng để tìm kiếm thời điểm giá nhập khẩu thích hợp. Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình xuất khẩu gạo của Việt Nam.

 Bên cạnh những tác động từ việc điều chỉnh chính sách của các nước nhập khẩu gạo, việc điều chỉnh chính sách xuất khẩu của các nước xuất khẩu gạo cạnh tranh như Thái Lan, Ấn Độ cũng đã tác động đến hoạt động xuất khẩu gạo hàng năm của nước ta. Kể từ cuối năm 2010, quyết định dỡ bỏ lệnh cấm vận xuất khẩu và đặt giá sàn xuất khẩu gạo ở mức thấp của Ấn Độ đã tác động tới giá gạo toàn cầu giảm. Ngoài ra, với giá gạo rẻ hơn, gạo từ Ấn Độ đã tăng sức ép cạnh tranh cho Thái Lan và Việt Nam tại một số khu vực và thị trường quan trọng. Trong khi đó, trong giai đoạn 2010 - 2012, Thái Lan thực hiện chương trình thế chấp gạo, giá gạo Thái Lan đã tăng cao, dần dần hình thành lượng tồn kho lớn, đã làm giảm khả năng cạnh tranh của nước này. Đây là yếu tố quan trọng để có thể lý giải vì sao xuất khẩu gạo của Việt Nam tăng trưởng rất mạnh trong giai đoạn này, mà đỉnh cao là kỷ lục xuất khẩu trên 8 triệu tấn vào năm 2012, trước khi bước vào giai đoạn sụt giảm từ năm 2013.

 Mặt khác, kể từ năm 2013, Chính phủ mới của Thái Lan đã không tiếp tục áp dụng chương trình thế chấp gạo và tích cực giải phóng lượng gạo tồn kho lên đến khoảng 18 triệu tấn. Năm 2014, với động thái đẩy mạnh giải phóng gạo tồn kho, Thái Lan đã trở thành nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới. Theo số liệu của Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương, năm 2014 lượng gạo xuất khẩu của Thái Lan đạt 10,696 triệu tấn. Trong năm 2016, cách đây vài tháng, Chính phủ Thái Lan đã thông báo sẽ bán 11,4 triệu tấn gạo dự trữ; đây là lần bán gạo ra thị trường thế giới lớn chưa từng có trong lịch sử của nước xuất khẩu gạo này. Với đa số lượng gạo này có giá rẻ, Thái Lan đã tích cực chuyển hướng xuất khẩu lượng gạo này nhằm vào thị trường gạo cấp thấp - phân khúc thị trường mà Việt Nam đã từng có nhiều lợi thế cạnh tranh về giá, gây áp lực cạnh tranh gay gắt với phân khúc thị trường này, đặc biệt là tại các thị trường tập trung truyền thống, trọng điểm của Việt Nam như Trung Quốc, Philippines, Indonesia, Malaysia.

 Thêm vào đó, Ấn Độ thường xuyên áp dụng chính sách giá sàn xuất khẩu thấp, áp dụng các chính sách hỗ trợ thu mua lương thực cho người nông dân, duy trì tồn kho lương thực nói chung và tồn kho gạo nói riêng lớn. Với vị trí địa lý thuận lợi, gạo Ấn Độ và Thái Lan đã dần chiếm thị phần gạo của Việt Nam. Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong 6 tháng đầu năm 2016, các thị trường có giá trị giảm mạnh là Philippines giảm 46,18%, Malaysia tới 49,07%, Singapore cũng giảm 30,43%. Trung Quốc mặc dù vẫn tiếp tục đứng vị trí thứ nhất về thị trường nhập khẩu gạo của Việt Nam trong 5 tháng đầu năm 2016 với, 35,5% thị phần, nhưng 5 tháng đầu năm 2016, xuất khẩu gạo sang thị trường này chỉ đạt 803,1 triệu tấn với 371,98 triệu USD, giảm 12,76% về khối lượng và giảm 1,8% về giá trị so với cùng kỳ năm 2015.

 Nhìn chung, trong thời gian tới, tình hình thị trường xuất khẩu gạo của thế giới được dự báo có nhiều diễn biến khó lường. Thị trường gạo thế giới tiếp tục chịu áp lực giảm giá và cạnh tranh quyết liệt giữa các nước xuất khẩu gạo. Nguồn cung dồi dào, tồn kho lớn của Thái Lan và Ấn Độ tiếp tục là yếu tố quan trọng tạo tâm lý bất lợi trên thị trường, làm cho mặt bằng giá xuất khẩu gạo khó duy trì ở mức cao.

 Một yếu tố cũng gây không ít khó khăn cho xuất khẩu gạo của Việt Nam, đó là nhiều nước nhập khẩu gạo tiếp tục thực hiện không ít chính sách nhằm hướng đến mục tiêu tự túc lương thực. Mặt khác, họ cũng không ngừng thay đổi phương thức nhập khẩu gạo theo hướng giành thế chủ động và có lợi nhất như giãn tiến độ nhập khẩu, tận dụng cạnh tranh giữa các nhà xuất khẩu để giảm giá nhập khẩu. Đồng thời, với các chính sách lương thực linh hoạt về nhập khẩu chính ngạch cũng như tiểu ngạch với các nước láng giềng thì thị trường Trung Quốc (thị trường xuất khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam) cũng là một yếu tố khó đoán định.

 Trước những diễn biến trên, vài năm gần đây, Việt Nam đã có những thay đổi về cơ cấu mặt hàng gạo. Xuất khẩu gạo của Việt Nam đã chuyển hướng từ tập trung xuất khẩu gạo trắng chất lượng thấp sang tăng cường xuất khẩu các loại gạo chất lượng cao, có giá trị gia tăng cao như gạo trắng chất lượng cao, gạo thơm, gạo nếp. Một số sản phẩm gạo chất lượng cao, đáp ứng được yêu cầu khắt khe của thị trường đã bước đầu thâm nhập vào những thị trường khó tính như Hàn Quốc, Nhật Bản, Hoa Kỳ, châu Âu.

 Tuy nhiên, với những dự báo diễn biến thị trường không ổn định, thị trường xuất khẩu gạo của thế giới nói chung và xuất khẩu gạo của Việt Nam nói riêng, trong thời gian tới, ngành gạo sẽ tiếp tục phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức. Thách thức này yêu cầu ngành gạo Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện những yếu kém nội tại như sản xuất còn manh mún, khâu chế biến còn chưa bảo đảm tính liên tục và còn nhiều vấn đề như chất lượng gạo chưa thực sự ổn định, khâu tổ chức thu mua còn nhiều bất cập; sự ứng phó của nhiều doanh nghiệp kinh doanh gạo đối với những biến động trên thị trường thế giới còn thiếu linh hoạt. Ngành gạo cần có những biện pháp ứng phó kịp thời và thích ứng với những biến đổi của thị trường gạo thế giới. Tạo lập và duy trì thị trường xuất khẩu gạo ổn định hàng năm, góp phần tiêu thụ lúa gạo cho nông dân; nâng cao giá trị kim ngạch xuất khẩu với những sản phẩm gạo chất lượng cao. Đẩy mạnh công tác xây dựng thương hiệu gạo Việt Nam trên thị trường thế giới./.

 Nguồn: Theo dangcongsan.vn



Thứ Hai, ngày 25 tháng 7 năm 2016

Biến lúa gạo thành sản phẩm cao cấp xuất khẩu ra thế giới


Hiện nay có một số sản phẩm có giá trị gia tăng cao như sơn chống cháy, chống đạn… được làm từ trấu mà những nguyên liệu này Việt Nam không thiếu. Tuy nhiên, chúng ta đang thiếu khâu nghiên cứu phát triển, biến phụ phẩm của nông nghiệp thành những sản phẩm thực thụ”.

Đây là ý kiến ông Phạm Minh Thiện, Giám đốc Công ty TNHH Cỏ May (Đồng Tháp). Ông vừa tuyên bố trong năm 2016 sẽ mở 1.000 cửa hàng gạo tại TP.HCM.

 Theo ông Thiện, DN chỉ cần làm một sản phẩm ngách, cung ứng được cho toàn cầu thì cơ hội phát triển lớn. Cụ thể như hoạt chất kháng oxy hóa chiết xuất từ cám gạo, được dùng trong dược - mỹ phẩm. Theo khảo sát của công ty, năm 2013 giá thành hoạt chất kháng oxy hóa của Trung Quốc là 7 triệu đồng/kg. Một tấn cám lấy được 2,5 kg chất kháng oxy hóa, nếu hiện nay DN bán bằng giá Trung Quốc sẽ thu về 17 triệu đồng. Trong khi đó, cám 5 triệu đồng/tấn, bã cám sẽ dùng trong thức ăn chăn nuôi, bán được 5,2 triệu đồng… Do đó, tiềm năng của phụ phẩm trong các sản phẩm nông nghiệp lớn. "Vì vậy, nếu nhiều DN nghiên cứu làm ra sản phẩm từ phụ phẩm thì lúa gạo Việt Nam có cơ phát triển mạnh” - ông Thiện nhấn mạnh.

 Ông Thiện cho biết thêm công ty ông đang áp dụng công nghệ cao để chế biến một số sản phẩm cao cấp như tinh dầu từ cám gạo, tinh dầu hoa sen. Tháng 10 này công ty sẽ ký kết hợp đồng nguyên tắc với một tập đoàn của Nhật, họ đánh giá cao quy trình công nghệ và đề nghị được bao tiêu toàn bộ nếu sản phẩm đáp ứng được các tiêu chuẩn.

 Bà Vũ Kim Hạnh, Chủ tịch Hội DN hàng Việt Nam chất lượng cao, cho biết hiện nay nhu cầu nông sản sạch của người tiêu dùng Việt tăng cao, công ty này biến gạo thành mặt hàng tiêu dùng phổ biến, dễ tiếp cận người tiêu dùng. Đây là cách làm thương hiệu phối hợp với xây dựng mạng lưới phân phối táo bạo, khá mới mẻ. Tạo ra khuynh hướng mới trong mua nông sản sạch, tiếp cận song hành với mặt hàng tiêu dùng nhanh cũng như trong kinh doanh phân phối trong mặt hàng lương thực.

Nguồn: Theo Báo Pháp luật



Cùng một tiêu chuẩn gạo, nhưng giá gạo xuất khẩu của Việt Nam lúc nào cũng thấp hơn Thái Lan nhiều


Giá gạo Thái đang có xu hướng giảm mạnh. Trong tuần này, gạo tiêu chuẩn 5% tấm giảm còn 420 – 435 USD/tấn, so với 420 – 438 USD/tấn tuần trước. Các thương nhân dự đoán các cuộc đấu thầu bán gạo vào ngày 25/7 tới đây sẽ kéo giá giảm sâu hơn nữa.

Gạo Thái Lan lấn lướt gạo 

Việt Theo báo cáo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, xuất khẩu gạo Việt Nam đang gặp khó khăn do bị cạnh tranh bởi gạo giá rẻ sắp đến từ Thái Lan. Chính phủ Thái Lan đang chào bán 3,81 triệu tấn gạo trong tháng 7/2016, số lượng này cao hơn nhiều so với 2,79 triệu tấn đã bán ra trong năm 2016.

 Giá gạo Thái đang có xu hướng giảm mạnh. Trong tuần này, gạo tiêu chuẩn 5% tấm giảm còn 420 – 435 USD/tấn, so với 420 – 438 USD/tấn tuần trước. Các thương nhân dự đoán các cuộc đấu thầu bán gạo vào ngày 25/7 tới đây sẽ kéo giá giảm sâu hơn nữa.

 Trong khi đó, tại Việt Nam, giá gạo 5% tấm có giá chỉ 360 – 365 USD/tấn nhưng không có giao dịch nào diễn ra. Nguyên nhân là khách hàng không muốn mua gạo vào thời điểm này do chờ đợi giá gạo Thái Lan giảm xuống.

 Xuất khẩu gạo 6 tháng đầu năm 2016 chỉ đạt 2,657 triệu tấn, giảm 1,99% so với cùng kỳ năm ngoái. Những thị trường tập trung của gạo Việt Nam chưa thấy dấu hiệu sẽ sớm nhập khẩu thêm gạo trong tương lai gần.

 Sự trầm lắng của thị trường xuất khẩu gạo cũng đã kéo dài suốt từ quý 2/2016 đến nay và khả năng còn tiếp diễn trong thời gian tới.


Gạo Việt Nam có giá rẻ hơn Thái Lan nhưng vẫn bị "ế" dài. 

Việt Nam chỉ hàng tỷ USD để nhập khẩu ngô

 Điều khá mâu thuẫn là trong khi gạo dư thừa quá nhiều thì cây ngô – loại cây phổ biến thứ 2 Việt Nam lại đang trở nên khan hiếm hơn bao giờ hết.

 Số liệu thống kê của Cục Trồng Trọt cho thấy, năm 2014, Việt Nam phải nhập khẩu hơn 4,7 triệu tấn ngô, tương đương với khoảng 1,2 triệu USD. Và chỉ 1 năm sau đó, con số này đã tăng gấp gần 2 lần (7,55 triệu tấn), tương đương với khoảng 1,6 triệu USD năm 2015.

 Từ con số trên, có thể thấy, mâu thuẫn gạo thừa - ngô thiếu là bài toán cần giải quyết sớm đối với ngành trồng trọt Việt Nam.

 Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn - Cao Đức Phát cho rằng, để giải quyết mâu thuẫn này cần định hướng chuyển đổi linh hoạt đất lúa sang đất trồng ngô. Đây là một cách để bắt nhịp với tín hiệu của thị trường: cân bằng ngô – lúa ở ngưỡng thích hợp, hạn chế một phần khó khăn từ dư thừa lúa gạo, chủ động được nguồn ngô nguyên liệu, hạn chế nhập khẩu.

 Theo Bộ trưởng, phát triển sản xuất ngô, chuyển đổi từ trồng lúa sang trồng ngô là một trong những giải pháp nhằm thực hiện Đề án “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững”.

 Kết quả thực nghiệm cũng đã cho thấy, sản xuất ngô mang lại giá trị cao hơn nhiều so với trồng lúa.

 Chuyển đổi đất lúa sang đất trồng ngô mang hiệu quả kinh tế cao. 

 Bỏ lúa trồng ngô, tăng 30% lợi nhuận

 Ông Lê Quốc Thanh – Giám đốc Trung tâm Chuyển giao công nghệ và khuyến nông (Viện Khoa học nông nghiệp Việt Nam - KHNN), là đơn vị tiên phong thực hiện dự án trên cho biết, đã phối hợp các viện, DN triển khai 20 mô hình của dự án, với quy mô 600 ha tại 8 tỉnh vùng miền núi phía Bắc.

 Bước đầu cho thấy, giá trị kinh tế của cây ngô mang lại hiệu quả gấp 30% so với cây lúa. Bên cạnh đó, việc áp dụng mô hình này làm giảm chi phí nhân công lao động 2,5 – 3,0 triệu đồng/ha. Đặc biệt, hệ thống sấy, làm sạch, bảo quản còn làm giảm tỷ lệ thất thoát sau thu hoạch đến 6,5%.

 Theo Ông Trần Xuân Định – Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt (Bộ NNPTNT), ngô thực phẩm (ngô nếp, ngô đường, ngô rau) có thời gian sinh trưởng ngắn, có thể trồng được nhiều 3-4 vụ/năm. Trong khi đó, ngô thường có năng suất đạt 6,1 -7,2 tấn/ha, tăng 20 - 30% so với cấy lúa, cao hơn 5-10 triệu/ha.

 Đây cũng là nguyên nhân chính khiến Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) cho biết, sẽ giảm chỉ tiêu xuất khẩu gạo từ 6,5 triệu tấn xuống còn 5,65 triệu tấn.

 Để thực hiện đề án này, Thủ tướng Chính phủ cũng đã đưa ra chính sách hỗ trợ để chuyển đổi từ trồng lúa sang trồng ngô. Theo đó, ở các vụ Hè Thu 2016 đến hết vụ Đông Xuân 2018 - 2019 tại vùng Trung du miền núi phía Bắc, Bắc Trung bộ, Đồng bằng sông Cửu Long, Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên sẽ được hỗ trợ 3 triệu đồng/1ha chi phí về giống ngô để chuyển đổi.

 Theo đề án của Bộ Nông nghiệp, đến năm 2020, tổng diện tích lúa qui hoạch chuyển đổi sang trồng ngô dự kiến là 25.100 ha. Trong đó, diện tích chuyển đổi tập trung tại các tỉnh như Lạng Sơn, Bắc Giang, Phú Thọ, Điện Biên, Lai Châu, Hòa Bình, Thái Nguyên.

Nguồn: Theo Trí Thức Trẻ



Nông dân hồ hởi với chương trình canh tác lúa thông minh


Thời gian gần đây, nhiều bà con nông dân thắc mắc hỏi, chương trình canh tác lúa thông minh là gì, làm thế nào để tham gia và hiệu quả của chương trình. Đây là chương trình canh tác lúa thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu do Cty CP Phân bón Bình Điền phối hợp với Trung tâm Khuyến nông Quốc gia thực hiện từ vụ hè thu năm 2016, tại 13 tỉnh, thành ĐBSCL. 

 Giảm giống lẫn phân 

 Canh tác lúa thông minh thật ra là giải pháp kỹ thuật, từ khâu làm đất, gieo hạt, bón phân, quản lý dịch hại, chăm sóc, thu hoạch…, dù vậy người nông dân vẫn có thu nhập cao vì mục đích hướng đến sản xuất hiệu quả.

 Nông dân thường có thói quen gieo giống dày, điều này ảnh hưởng hàng loạt đến các công đoạn sau này như: Chăm sóc, hạn chế dịch bệnh và thu hoạch. Bởi thế, chương trình hướng dẫn nông dân áp dụng nhiều kỹ thuật để hạn chế lượng lúa giống khi gieo sạ nhưng vẫn phù hợp với đồng đất, không làm ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng. Một nông dân ở Tiền Giang cho biết, bà con mình vẫn sạ từ 200 - 250 kg lúa giống cho 1 ha, cá biệt có hộ sạ tới 350 - 400 kg. Nay, các nhà khoa học của chương trình khuyến cáo, sạ 80 kg/ha nhưng lúa vẫn phát triển tốt.

 TS. Hồ Văn Chiến - thành viên ban cố vấn - lý giải: 1m2 đất chỉ cần tối đa 600 bông lúa, mà sạ 80 kg giống/ha thì mỗi m2 có trên 350 hạt, mỗi hạt chỉ cần 2 chồi là có 700 chồi. Còn gieo dày hay thúc cho nó nở bụi tới 1.200 - 1.500 chồi thì phân nửa số đó cũng sẽ là chồi vô hiệu. Số còn lại nằm trong đám rậm rạp kia sẽ ráng ngoi lên mà ra bông, nhưng bông sẽ nhỏ, ngắn, hạt ít, nhỏ, lại nhiều lép. Thân cây yếu, dễ bị sâu bệnh tấn công, dễ đổ, ngã, phải xịt nhiều thuốc. Nhiều cây thì phải bón nhiều phân… Rốt cục, số lượng thóc đẹp thu được sẽ không bằng sạ thưa.

 Theo GS.TS Mai Văn Quyền - Chủ tịch Hội đồng Khoa học Cty CP Phân bón Bình Điền - nguyên Phó Viện trưởng Viện KHKT nông nghiệp miền Nam, để sạ thưa đúng kỹ thuật và hiệu quả, bà con lưu ý phải làm đất cho kỹ, san lấp mặt ruộng cho phẳng, chủ động được nguồn nước tưới và nhất thiết phải dùng lúa giống xác nhận thì hiệu quả mới cao.

 Thời gian qua, đạo ôn xuất hiện nhiều ở ĐBSCL, riêng tỉnh Sóc Trăng đã có trên 17.000 ha mắc bệnh này. Nguyên nhân là do gieo sạ dày và bón phân thừa đạm khiến cho lúa bị “sụ mặt”. Để đảm bảo cho cây lúa phát triển, Cty Bình Điền đã đưa ra bộ phân bón đặc chủng NPK Đầu Trâu phèn mặn, phù hợp với điều kiện biến đổi khí hậu ảnh hưởng tới độ nhiễm mặn và chua phèn của ĐBSCL, nhất là các tỉnh ven biển. Để cho chi phí sản xuất thấp mà vẫn đạt năng suất cao, cùng với bộ sản phẩm Đầu Trâu phèn mặn, Bình Điền đã đưa tới nông dân phân đạm hạt vàng 46A+ và DAP Avail, giúp bà con giảm lượng bón từ 30 - 50% so với sản phẩm cùng loại, cũng tức là tăng lợi nhuận cho người trồng lúa.

 Hứa hẹn hiệu quả cao 

 Vừa qua, ban cố vấn chương trình cùng trung tâm khuyến nông của 13 tỉnh, thành ĐBSCL đã có chuyến thăm các mô hình, hướng dẫn trực tiếp cho nông dân đo độ mặn, phèn để nhận biết thời điểm bón phân cân đối. Anh Đồng Văn Tiệp (ở ấp 3, xã Vĩnh Viễn, huyện Long Mỹ, Hậu Giang) - một trong những nông dân tiêu biểu được chọn thí điểm mô hình canh tác lúa thông minh - cho biết, đã áp dụng mô hình và giảm được lượng giống sạ xuống còn 8 kg/công (cách làm truyền thống sạ tới 20 - 25 kg/công). Hiện tại, cây lúa khỏe, nở bụi tốt, số chồi nảy nở nhiều, chi phí ban đầu giảm khoảng 250.000 - 300.000 đồng/ha. Sử dụng loại phân chuyên dùng Đầu Trâu giải độc mặn - phèn thúc cây ra rễ, bộ rễ cây phát triển mạnh, tăng khả năng chống chịu, trước khi sạ bón lót 250 - 300 kg/ha. Đến thời điểm này, mô hình thí điểm trên ruộng vẫn chưa phải xử lý thuốc bảo vệ thực vật.

 Còn ông Nguyễn Hồng Phương (ở xã Long Thạnh, huyện Giồng Riềng, Kiên Giang) có 5 công sạ 40 kg giống, đến nay trà lúa đã được 35 ngày tuổi. Ông Phương cho biết, từ khi áp dụng mô hình, trước tiên giảm được dịch hại sâu bệnh so với các thửa ruộng xung quanh, giống lúa OM 9921 đến thời điểm hiện tại chưa phải sử dụng thuốc trừ sâu, có bệnh đạo ôn nhưng không đáng kể.

 GS.TS Mai Văn Quyền cho biết, qua khảo sát trên mô hình thí điểm của nhiều hộ trước khi gieo sạ đất bị nhiễm phèn, cây lúa có hiện tượng rễ có phèn nhẹ nên không trắng đẹp bằng những vùng khác. Nhưng nhìn chung cũng khá đạt yêu cầu của mô hình. Nếu bón phân chuyên dùng Đầu Trâu mặn - phèn sẽ giúp rễ trắng, khỏe, hút dinh dưỡng.

 Ông Trần Văn Dũng - Trưởng Văn phòng thường trực, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia tại TP.HCM - cho rằng, Bình Điền và Trung tâm Khuyến nông Quốc gia xây dựng chương trình canh tác lúa thông minh ứng phó với biến đổi khí hậu chặt chẽ, công tác bảo đảm chu đáo, triển khai thực hiện với sự vào cuộc nhiệt tình của cơ quan khuyến nông và lãnh đạo, chính quyền địa phương.

 Trồng lúa vẫn thu lợi nhuận cao nếu biết cách 

 Nông dân hồ hởi với chương trình canh tác lúa thông minh Doanh nhân Lê Quốc Phong, 
Tổng GĐ Cty CP Phân bón Bình Điền. 

 Lúa gạo Việt Nam đã trải qua những giai đoạn thăng trầm, từ chỗ không đủ ăn, đến sản xuất tự cung, tự cấp và sau đó vươn lên xuất khẩu đứng hàng thứ hai, thứ ba thế giới.Tuy nhiên, sản xuất lúa gạo ở một số nước có nền nông nghiệp phát triển cũng đã thay đổi cách làm và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật (KHKT) để tăng năng suất và chất lượng, điều này làm gia tăng sự cạnh tranh ngày càng gay gắt. Dù chúng ta có sản lượng gạo xuất khẩu cao nhưng việc xây dựng thương hiệu gạo Việt chưa tạo ra ấn tượng, chất lượng không ổn định, giá thành cao... cho nên có những giai đoạn bị yếu thế trên thị trường. Một số bà con nông dân hoang mang khi sản xuất ra không bán được và không có lợi nhuận nên đã chuyển đổi qua canh tác loại cây trồng khác.

Nhiều cuộc hội thảo, nhiều câu hỏi đặt ra cho chính quyền các cấp và các nhà khoa học là có nên trồng lúa hay không? Liệu trồng lúa có cho thu nhập cao và ổn định không? Câu trả lời là trồng lúa vẫn là giải pháp dễ thực hiện và bền vững nhất với nông dân, nếu canh tác đúng cách, đúng quy trình vẫn mang lại lợi nhuận cao. Nhưng trước hết bà con nông dân phải thay đổi nhận thức là đang kinh doanh trên đồng ruộng của mình, sản xuất ra lúa hàng hóa để đáp ứng nhu cầu ngày càng đòi hỏi khắt khe của người tiêu dùng trong nước và thế giới. Từ đó, bà con mình phải chuẩn bị thật kỹ trước khi sản xuất từ khâu làm đất, chọn giống, phân bón, chăm sóc và thu hoạch đồng thời ứng dụng các tiến bộ KHKT theo khuyến cáo của các nhà khoa học, chắc chắn bà con mình sẽ tiết kiệm được giống, thuốc, phân bón, ngày công...

 Chương trình canh tác lúa thông minh ứng với biến đổi khí hậu là một chương trình cung cấp cho bà con nhiều giải pháp tối ưu để trồng lúa không những có lợi nhuận mà lợi nhuận ngày càng cao, dù chương trình mới thực hiện ở 13 tỉnh, thành Đồng bằng sông Cửu Long nhưng đã tạo ra được hiệu ứng khá tốt, được nông dân hưởng ứng tích cực.Thiết nghĩ, đây là chương trình cần nhân rộng ra cả nước, khi mà nhiều bà con tham gia thì việc trồng lúa mang lại lợi nhuận cao cho nông dân là điều không cần phải bàn cãi.

Nguồn: Theo Báo Lao động



Hàng chục héc ta lúa chết non tại Tiền Giang: Do mặn hay phân?

Hàng chục hécta lúa non của bà con nông dân tại “Cánh đồng liên kết” (CĐLK) ấp 4, xã Mỹ Thành Bắc, huyện Cai Lậy (Tiền Giang) đang xanh tốt bỗng ngả sang màu vàng hoe, héo úa rồi chết lụn dần sau khi bón phân. Nhiều nông dân bức xúc cho rằng lúa chết do phân bón, còn nhà sản xuất phân cho rằng do ảnh hưởng hạn - mặn…

Lúa non chết lụn hàng loạt

Theo thống kê của UBND xã Mỹ Thành Bắc, hiện có hơn 20ha lúa của 17 hộ dân tại CĐLK ấp 4 của xã này xảy ra tình trạng ngả màu vàng lá, chết lụn dần chưa rõ nguyên nhân. Trước thực trạng lúa chết hàng loạt, nhiều nông dân cho rằng, lúa chết do bón phân Lio-Thái (sản phẩm của Cty TNHH phân bón hữu cơ Freenfield). Hộ ông Hà Văn Ngoan phản ánh, vụ lúa mùa năm nay gia đình gieo sạ 1,8ha lúa giống OM-5451. Đến khi cây lúa làm mạ được 11 ngày tuổi lúa vẫn xanh tốt. Tuy nhiên sau khi ông Ngoan bón phân Lio-Thái kết hợp một lượng ít phân Super Humic (sản phẩm của Cty TNHH hóa nông Hợp Trí) cho lúa, được khoảng 2-3 ngày sau, toàn bộ diện tích lúa non bỗng đồng loạt ngả màu vàng hoe, héo úa rồi chết lụn dần.


“Từ hôm lúa bị “ngộ độc” đến nay, tôi dùng mọi biện pháp: Rải vôi, xả nước, bơm nước mới vào… cứu lúa tốn biết bao nhiêu là chi phí nhưng vẫn không cứu nổi, đành bất lực nhìn lúa chết” - ông Ngoan bức xúc. Không chỉ riêng hộ ông Ngoan, nhiều diện tích lúa non của nông dân tại CĐLK ấp 4 cũng xảy ra tình trạng tương tự. Bị thiệt hại nặng nề nhất là hộ ông Nguyễn Văn Đẳng có 3ha lúa bị chết hầu như hoàn toàn. Nhiều nông dân cho biết, đây là năm đầu tiên họ vào mô hình CĐLK được Cty lương thực Tiền Giang hỗ trợ giống lúa OM-5451, Cty Freenfield hỗ trợ 30% phân bón và Cty Hợp Trí hỗ trợ 30% thuốc nên bước đầu nông dân rất phấn khởi. Tuy nhiên hiệu quả của mô hình CĐLK ngoài mong đợi của nông dân. Đứng nhìn hàng hécta lúa bị chết dần, hộ ông Phan Văn Lực than thở: “Hiện tượng lúa chết này từ trước tới nay ở địa phương chưa từng xảy ra. Nay là năm đầu tiên chúng tôi tham gia CĐLK, nhưng mới “bắt tay” mà đã xảy ra hiện tượng thế này, thiệt hại quá lớn”.

Do phân bón hay hạn - mặn?

Theo người dân phản ánh, thời điểm họ đồng loạt bón phân Lio-Thái cho lúa thì hộ bà Hà Thị Thương ở cùng ấp, do bận công việc gia đình nên chưa kịp xuống phân. Vài ngày sau khi thấy lúa của nhiều hộ xung quanh bị vàng lá và chết dần, bà Thương ngừng ngay việc bón phân Lio-Thái. Kết quả mảnh ruộng của hộ bà Thương không bị ảnh hưởng, lúa vẫn xanh tốt. Trong khi đó hàng loạt diện tích lúa của hàng chục hộ dân bón phân Lio-Thái đều xảy ra hiện tượng lúa chết như nhau.

Bà Phạm Thu Hiền - Phó Chủ tịch Hội Nông dân xã Mỹ Thành Bắc - cho biết, nông dân nói lúa chết do phân, còn Cty nói lúa chết chưa rõ phân hay thuốc, hay do hạn - mặn, nguyên nhân đang chờ ngành chức năng kết luận. Hiện các nhà cung cấp phân, thuốc đang phối hợp với ngành chức năng tổ chức thử nghiệm lại sản phẩm (lượng phân bón và thuốc bà con nông dân chưa sử dụng hết) trên một phần ruộng khác để làm rõ lúa chết do đâu. Quá trình tổ chức thử nghiệm có sự giám sát chặt chẽ của cơ quan chức năng và nông dân. “Nếu xác định chính do phân hoặc thuốc của các Cty trên gây thiệt hại cho lúa thì chúng tôi sẽ kiến nghị các Cty có chính sách đền bù thỏa đáng cho nông dân” - bà Hiền nói.

Ông Trần Anh Hòa - Phó TGĐ Chi nhánh Cty TNHH phân bón hữu cơ Freenfield (quận Tân Bình, TPHCM) - cho biết, cơ quan chức năng đã lấy mẫu phân bón Lio-Thái và thuốc của Cty Hợp Trí gửi lên Trung tâm Kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng 3 (TPHCM) khảo nghiệm, đang chờ kết quả. “Tôi tin tưởng vào sản phẩm của Cty mình, tôi nghi ngờ có thể lúa chết không phải do phân mà do ảnh hưởng của đợt mặn kéo dài sau tết. Trong đất còn bị mặn nên khi bà con gieo sạ xong không nên bón phân hữu cơ sớm sẽ làm tăng thêm độ mặn khiến lúa bị chết” - ông Hòa nói. Ông Hòa cũng cho biết, dù chưa biết là lỗi do đâu, nhưng trước mắt Cty chúng tôi vẫn có chương trình hỗ trợ nông nghiệp cho nông dân có sử dụng sản phẩm phân bón Lio-Thái để chia sẻ khó khăn với bà con nông dân.

Bài: THANH HUYỀN - Báo Lao động

Khôi phục sản xuất sau hạn, mặn: Nông dân cần tiếp sức kịp thời

Trung tuần tháng 7-2016, nhiều tỉnh, thành ở ĐBSCL đã tuyên bố hết thiên tai hạn, mặn, nông dân bắt đầu bước vào vụ sản xuất mới. Trải qua hơn 6 tháng gánh chịu thiên tai, quá trình khôi phục sản xuất không hề đơn giản. Vùng lúa đất đai nhiễm mặn, nhà vườn chật vật với cây giống, vùng tôm thiếu vốn, chưa kịp nhận đền bù…

Vướng hóa đơn, chứng từ

Trở lại vùng ảnh hưởng lớn do bị ảnh hưởng bởi hạn, mặn vào những ngày này, chúng tôi thấy trên nét mặt của người nông dân vẫn còn nhiều nỗi ưu tư. Việc khắc phục hậu quả thiên tai vẫn còn nhiều nỗi lo. Hiện tại, vụ mùa trồng lúa trên đất nuôi tôm sắp bắt đầu nhưng không ít nông dân được hỏi cho biết đang... tâm tư vì thiếu đủ thứ. Ông Nguyễn Văn Tước (xã Nguyễn Phích, huyện U Minh) nói: “Năm rồi, tôi trồng lúa trên đất nuôi tôm gần 2ha, lúa cấy xuống dặm đến hai ba lần. Tiền giống, phân bón và công sức bỏ ra biết bao nhiêu nhưng trắng tay. Dù gia đình tôi bị thiệt hại nặng như vậy nhưng không nhận được hỗ trợ. Nguyên nhân do chính sách chưa rõ ràng, cán bộ thống kê thiếu”.

Không chỉ người dân trồng lúa trên đất nuôi tôm gặp khó trong việc tái sản xuất mà người nuôi tôm cũng rơi vào cảnh tương tự, thậm chí bi đát hơn. Chưa hộ dân nào nhận được tiền hỗ trợ cho dù UBND tỉnh Cà Mau đã có quyết định công bố thiên tai cấp độ 2 đã gần hai tháng (tổng diện tích bị thiệt hại là 52.000ha, số tiền hỗ trợ dự kiến khoảng 260 tỷ đồng). Vướng mắc lớn nhất theo các cơ quan chuyên môn là theo Thông tư 05 của Bộ Tài chính quy định cơ chế, chính sách được hỗ trợ thủy sản khôi phục sản xuất trong vùng bị thiệt hại do thiên tai thì phải có chứng từ, kê khai ban đầu với chính quyền địa phương. Tuy nhiên, trong thực tế, tập quán sản xuất của người dân thì khi mua tôm về thả nuôi không có hóa đơn chứng từ, không khai báo với địa phương. Nếu căn cứ đúng theo Thông tư 05 thì hầu như Cà Mau không có hộ nào đủ điều kiện được hỗ trợ!


Nông dân huyện U Minh (Cà Mau) thả nuôi tôm trên đất trồng lúa. Ảnh: Ngọc Chánh

Tại Bạc Liêu, Chủ tịch UBND tỉnh Bạc Liêu có quyết định bổ sung hơn 24 tỷ đồng từ nguồn kinh phí Trung ương bổ sung có mục tiêu và tạm mượn nguồn kinh phí bảo vệ và phát triển đất trồng lúa để các địa phương trong tỉnh chi hỗ trợ các hộ dân có diện tích lúa, tôm bị thiệt hại do hạn hán, xâm nhập mặn, nhưng cũng vướng Thông tư 05 như các địa phương khác. Nếu không có biện pháp tháo gỡ kịp thời, chủ trương về khôi phục sản xuất tôm của Bộ NN-PTNT để góp phần phục hồi tăng trưởng nông nghiệp sẽ gặp khó do nông dân thiếu vốn, con giống… để sản xuất.

Khó khăn bủa vây

Bước vào mùa mưa, giá một số mặt hàng nông sản xuống thấp khiến nông dân gặp nhiều khó khăn. Thêm nữa, việc xuống giống lúa trên cánh đồng nhiễm mặn cũng rất rủi ro, khiến nông dân đứng ngồi không yên. Ông Nguyễn Văn Út, nông dân ở huyện Châu Thành (Bến Tre) cho biết: Hạn, mặn vừa qua làm nông dân kiệt sức, nhưng cái chính là nông dân vẫn quyết tâm khôi phục lại ruộng vườn. Chỉ mong Nhà nước có chính sách hỗ trợ kịp thời về giống, vốn và khoa học kỹ thuật.


Thu hoạch lúa tại Long An. Ảnh: Kim Ngân

Tại vùng ngọt hóa Gò Công và vùng cù lao Tân Phú Đông (tỉnh Tiền Giang) đã có hàng trăm hécta lúa sau khi sạ bị chết, nông dân phải gieo sạ lần 2. Hiện có hơn 5.000ha diện tích ruộng phải bỏ sản xuất vụ hè thu. Những khu vực trồng lúa xa nguồn nước cũng đang bị sâu bệnh gây hại, ảnh hưởng đến năng suất. Tại Đồng Tháp, vụ lúa thu đông năm nay, nông dân huyện Tháp Mười đã xuống giống trên 37.000ha. Hiện tại, lúa đang trong giai đoạn mạ, đẻ nhánh. Mấy ngày qua, do ảnh hưởng của thời tiết đã làm cho bệnh đạo ôn phát triển, gây hại gần 1.500ha lúa, trong đó nhiễm nặng 30ha. Tại Trà Vinh, UBND tỉnh Trà Vinh công bố dịch bệnh đạo ôn hại lúa hè thu năm 2016 trên địa bàn huyện Càng Long và Cầu Kè với tổng diện tích nhiễm sâu bệnh hơn 7.673ha.

Trong khi đó, việc khôi phục vườn cây ăn trái không hề đơn giản. Tại Bến Tre, Hội nông dân tỉnh phối hợp Trung tâm Ứng dụng công nghệ cao, Chi cục Bảo vệ thực vật cùng nhiều công ty trong và ngoài tỉnh tổ chức hàng chục cuộc hội thảo, hướng dẫn kỹ thuật chăm sóc cây sau hạn mặn cho nông dân, đồng thời đến từng chi hội nông dân ở các ấp hỗ trợ cách xử lý, chăm sóc và giới thiệu các loại phân thuốc phù hợp cho cây trồng. Thế nhưng, do hạn mặn kéo dài, nhiều loại cây trồng khó hồi phục, phải đốn bỏ, thay cây mới.

Ông Bùi Văn Lâm, Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Bến Tre cho biết: Bến Tre đã đề ra 8 nhóm giải pháp để phát triển nông nghiệp sau hạn mặn và ngăn mặn, trữ ngọt. Theo đó, để nhanh chóng khôi phục lại sản xuất, tỉnh tập trung triển khai thực hiện hỗ trợ người dân bị thiệt hại do thiên tai xâm nhập mặn; hỗ trợ giống lúa với tổng kinh phí 37,434 tỷ đồng. Về lâu dài, tỉnh sẽ xem xét và quy hoạch lại vùng nuôi trồng thích hợp với thổ nhưỡng cũng như đa dạng hóa cây con giống.

Đánh giá về thực trạng nông nghiệp, nông dân ở ĐBSCL hiện nay, nhiều chuyên gia cho rằng: Những giải pháp khôi phục sản xuất vừa qua chỉ là trước mắt. Về lâu dài phải làm sao cho người nông dân chống chịu được với biến đổi khí hậu bằng cách nâng cao sinh kế. Nhiệm vụ trước mắt là quy hoạch lại cơ cấu sản xuất và mùa vụ phù hợp; triển khai các giải pháp về thủy lợi, ổn định đầu ra, đầu vào cho nông sản, triển khai nhanh đề án thí điểm liên kết vùng của Chính phủ đối với 3 sản phẩm chủ lực là lúa, thủy sản và cây ăn trái. Có như vậy mới ổn định được đời sống nông dân, ĐBSCL mới phát triển bền vững!

Ngọc Chánh - Cao Phong (Báo SGGP)

Nâng cao tính bền vững mô hình canh tác tôm - lúa

Ngày 22.7, tại tỉnh Bạc Liêu, Trung tâm khuyến nông quốc gia phối hợp với UBND tỉnh Bạc Liêu tổ chức diễn đàn Khuyến nông @ Nông nghiệp năm 2016.


Quang cảnh Diễn đàn Khuyến nông @ Nông nghiệp năm 2016. Ảnh: Báo Nhân Dân

Tham dự có các nhà khoa học, đại diện các viện, trường, doanh nghiệp, lãnh đạo ngành nông nghiệp các tỉnh, thành trong vùng và hơn 160 nông dân các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh…

Phát biểu tại diễn đàn, ông Trần Văn Khởi, Giám đốc Trung tâm khuyến nông quốc gia, nhấn mạnh mục tiêu của diễn đàn là nhằm thảo luận, trao đổi và đề ra những định hướng phát triển bền vững mô hình sản xuất tôm - lúa. Mô hình canh tác tôm - lúa phát triển mạnh mẽ hơn 15 năm gần đây. Hiện nay, nuôi tôm nước lợ, tôm - lúa vùng ĐBSCL chiếm một vị trí hết sức quan trọng đối với kinh tế của vùng và cả nước, tạo công ăn việc làm, thu nhập và phát triển kinh tế - xã hội.

Tuy nhiên, trong thời gian qua mô hình sản xuất này còn gặp nhiều khó khăn. Trong đó, quan ngại nhất là nguồn giống phục vụ nhu cầu sản xuất chưa được chủ động, chưa đảm bảo chất lượng; hạ tầng thủy lợi chưa hoàn thiện, hệ thống kênh cấp - thoát nước chưa đáp ứng nhu cầu nên gây khó khăn cho công tác sản xuất và kiểm soát dịch bệnh; sản xuất tôm - lúa phần lớn ở quy mô hộ gia đình nhỏ lẻ, kỹ thuật chưa đảm bảo, năng suất còn thấp, thiếu bền vững…

Vì vậy, để phát triển bền vững mô hình canh tác này, đề nghị bộ ngành liên quan, chính quyền các cấp cần tiếp tục thực hiện theo hướng phát huy lợi thế điều kiện tự nhiên; phát triển nuôi tôm ở những vùng bị xâm nhập mặn, vùng chuyên canh lúa kém hiệu quả với hình thức nuôi tôm và trồng lúa phù hợp với từng vùng sinh thái; phát triển công nghệ, cải tiến kỹ thuật để nâng cao năng suất, sản lượng và hiệu quả nuôi tôm, trồng lúa, hướng đến phát triển thành các vùng nuôi tôm - lúa bền vững.

Trần Thanh Phong (Báo Thanh Niên)

Nông dân trồng lúa vùng bị hạn sẽ mất trên 70% năng suất

Theo Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam, hạn hán và xâm nhập mặn là nguyên nhân quan trọng kéo giảm tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2016.

Chuyên gia kinh tế của WB, ông Sebastian Eckardt, chỉ rõ: Tính đến tháng 4/2016, 22 trong số 63 tỉnh, thành của Việt Nam bị ảnh hưởng bởi hạn hán và xâm nhập mặn. Các địa phương bị ảnh hưởng đã yêu cầu hỗ trợ tài chính từ trung ương; 18 tỉnh công bố tình trạng khẩn cấp.


(Ảnh minh họa: Dân Việt)

360.000 ha đất nông nghiệp bị sụt giảm năng suất

Ước tính có gần 2,3 triệu người tại đồng bằng sông Cửu Long, ven biển Nam Trung Bộ và Tây Nguyên bị gián đoạn nguồn sinh kế và dịch vụ thiết yếu. Hạn hán đe dọa sản xuất nông nghiệp, và nguồn nước ngọt cung cấp cho 400.000 hộ gia đình. Hạn hán cũng đe dọa nghiêm trọng tình hình tiếp cận hạ tầng xã hội như giáo dục, y tế. Khoảng 150 trường học và 150 cơ sở y tế tại các tỉnh bị thiếu nước dùng và dịch vụ vệ sinh do hạn hán.

Khoảng trên 1,75 triệu người bị đe dọa mất nguồn sinh kế do ảnh hưởng của hạn hán và xâm nhập mặn đối với sản xuất nông nghiệp. Khoảng 360 ngàn ha đất nông nghiệp bị sụt giảm năng suất với mức độ khác nhau. 26 ngàn ha đã không thể canh tác được do không có nước.

Bên cạnh đó, thực trạng thiếu nước cùng nguy cơ giảm thu nhập có thể đẩy nhiều gia đình nông dân vào cảnh nghèo trong vài tháng tới. Nhiều hộ gia đình đã bị lâm vào cảnh nợ nần do bị mất mùa và không còn nguồn lực để tiếp tục khôi phục đất canh tác hoặc nuôi trồng thủy sản trong các tháng tới.

Hạn hán, xâm nhập mặn và giảm sút sản xuất nông nghiệp đang đe dọa sinh kế của nhiều hộ gia đình, đặc biệt là các hộ nghèo và dễ bị tổn thương. Ba khu vực bị ảnh hưởng lớn nhất của tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn (Tây nguyên, Đồng bằng sông Cửu long và Nam Trung bộ) hiện có trên 1 triệu hộ nghèo và gần 1 triệu hộ cận nghèo (khoảng 8,1 triệu người).

Khoảng 75,7% các hộ hộ này có ít nhất 1 người làm nông nghiệp và thu nhập của họ sẽ bị ảnh hưởng. Một ước tính sơ bộ cho thấy nếu thu nhập từ nông nghiệp giảm 10% thì tỷ lệ nghèo sẽ tăng thêm 2,6 điểm phần trăm ở Tây nguyên và 1,9 điểm phần trăm ở Đồng bằng sông Cửu long và Nam Trung bộ. Nói cách khác, khoảng 760 ngàn người ở 3 khu vực này đang đối mặt với nguy cơ rơi vào diện nghèo.

WB còn ước tính có 2 triệu người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên bị ảnh hưởng trong đợt hạn hán này vì 93% người lao động dân tộc thiểu số hiện làm nông nghiệp và tỷ trọng thu nhập bình quân từ nông nghiệp của người dân tộc thiểu số là rất cao - khoảng 82%.

Mất trên 70% năng suất lúa tại các vùng bị hạn

Đối với Đồng bằng sông Cửu Long, chuyên gia của WB cho rằng, nhiễm mặn là hiện tượng xảy ra theo chu kỳ tại đồng bằng sông Cửu Long, nhưng năm nay hiện tượng này trở nên nghiêm trọng nhất trong vòng 90 năm qua.


Lần đầu tiên ngành nông nghiệp tăng trưởng âm kể từ năm 2005

6 tháng đầu năm 2016, tăng trưởng các khu vực nông, lâm thủy sản giảm điểm. Ngành nông - lâm - thuỷ sản tiếp tục tăng trưởng âm khi giảm tới 0,18%, tương ứng 397.400 tỷ đồng. Nguyên nhân được cho là do sản lượng lúa đông xuân năm nay chỉ đạt 19,4 triệu tấn, giảm mạnh so với cùng kỳ khiến nông nghiệp giảm 0,78%. Thêm vào đó, ngành chăn nuôi gặp nhiều khó khăn, tình hình hạn hán, xâm nhập mặn ở Tây Nguyên, Nam Trung Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long... gây thiệt hại nặng. Bộ Kế hoạch & Đầu tư đã ước tính hạn hán, xâm nhập mặn đã gây thiệt hại khoảng 15.000 tỷ đồng cho nền kinh tế Việt Nam.

Hạn hán và xâm nhập mặn đã bắt đầu sớm hơn 2 tháng so với trước đây, và ăn sâu hơn vào đất liền 50-60 km và đã ảnh hưởng 20-30 km sâu hơn thông thường. Đến cuối tháng 4/2016 có khoảng 40-50% đất canh tác tại đồng bằng sông Cửu Long bị ảnh hưởng. Do vậy, trong giai đoạn 3/2015-3/2016, diện tích canh tác lúa tại đây đã giảm 16,7%.

Tỉnh bị ảnh hưởng nặng nề nhất của hạn hán và xâm nhập mặn là Cà Mau với diện tích lúa bị ảnh hưởng là 49.000 ha. Vào thời điểm tháng 4/2016 có 11 trong số 13 tỉnh khu vực đồng bằng sông Cửu Long bị ảnh hưởng nặng, trong khi đó tình trạng nhiễm mặn vẫn tiếp tục gia tăng. Mức độ tăng mạnh nhất ghi nhận tại các trạm quan trắc tại Bến Tre và Tiền Giang. Trong mùa khô tới, hạn hán và xâm nhập mặn dự kiến sẽ tiến sâu hơn vào đất liền.

Với Tây Nguyên và vùng ven biển Nam Trung Bộ, hạn hán đã ảnh hưởng lên 70% diện tích canh tác. Ước tính có tới 40.000 ha đất lúa tại các tỉnh Khánh Hòa, Ninh Thuận, và Bình Thuận sẽ không có nước tưới và khoảng 31.000 hộ gia đình không có nước sạch.

Theo FAO, dự kiến tình trạng hạn hán sẽ kép dài tới tháng 9/2016, đe dọa 600.000 ha lúa. Các hộ nông dân trồng lúa dự kiến sẽ mất trên 70% năng suất tại các vùng bị hạn. Cục Trồng trọt dự tính sẽ mất khoảng 34.000 tỉ đồng (1,5 tỷ USD) để giải quyết hậu quả hạn hán và xâm nhập mặn.

“Có lẽ con số thiệt hại còn tăng lên nữa. Bộ NNPTNT dự tính xâm nhập mặn khu vực đồng bằng sông Cửu Long sẽ đạt mức cao nhất trong vòng 1 thế kỷ. Hạn hán sẽ tác động tiêu cực đáng kể lên sản lượng nông nghiệp và xuất khẩu của Việt Nam”- ông Sebastian Eckardt lưu ý.

Bộ NNPTNT dự tính sản lượng lúa sẽ giảm 1,5% xuống còn 44,5 triệu tấn trong năm nay. Nạn hạn hán hiện nay không chỉ tác động tới sản xuất gạo của Việt Nam, mà còn tới cả năng lực xuất khẩu gạo nữa. Xuất khẩu gạo Việt Nam sẽ giảm 10% xuống mức dưới 6 triệu tấn - mức thấp nhất trong vòng 8 năm. Tương tự, do ảnh hưởng của hạn (và sụt giảm năng suất cây đã trồng lâu năm) xuất khẩu cà phê cũng sẽ giảm 25% năm 2016 xuống còn 1 triệu tấn, mức thấp nhất trong 10 năm trở lại đây./.

Xuân Thân/VOV.VN

Thanh Hóa: Tập trung chỉ đạo phòng trừ sâu cuốn lá hại lúa vụ mùa 2016

Hiện nay hầu hết diện tích lúa vụ mùa của tỉnh Thanh Hóa đang trong giai đoạn đẻ nhánh. Đây là thời điểm một số loại sâu bệnh bắt đầu phát sinh gây hại, nhất là sâu cuốn lá nhỏ.

Theo Sở Nông nghiệp và PTNT Thanh Hóa, hiện nay mật độ sâu cuốn lá nhỏ lứa 5 (sâu non tuổi 5 và trưởng thành) phổ biến từ 3-7 con/m2, nơi cao từ 10-20 con/m2, cục bộ có những ruộng trên 30 con/m2 ở một số huyện như: Hoằng Hóa, Nông Cống, Thường Xuân,…

Theo dự báo của Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh Thanh Hóa, trưởng thành sâu cuốn lá nhỏ sẽ vũ hóa tập trung vào khoảng từ ngày 15-19/7/2016 và sâu non sẽ gây hại lúa từ ngày 20/7/2016 trở đi với mật độ dự kiến sẽ cao hơn trung bình nhiều năm, nhất là trên các trà lúa mùa sớm cấy trước ngày 20/6/2016.

Để đảm bảo cây lúa sinh trưởng tốt và chủ động phòng trừ sâu cuốn lá nhỏ lứa 5, tránh bùng phát mật độ và gây hại trên diện rộng đối với sâu cuốn lá lứa 6 vào giai đoạn lúa làm đòng, các cơ quan chuyên môn khuyến cáo bà con nông dân cần thực hiện tốt một số biện pháp như:

– Thường xuyên kiểm tra, bám sát đồng ruộng để phát hiện sớm các loại sâu bệnh, nhất là sâu cuốn lá nhỏ trên lúa trà mùa sớm, những ruộng bón không cân đối NPK, bón thừa phân đạm.

– Bón phân thúc đầy đủ, cân đối, kịp thời và đảm bảo đủ nước cho lúa đẻ nhánh tập trung.

– Đối với sâu cuốn lá nhỏ lứa 5, cần phun thuốc khi sâu non ở tuổi 1-2 bằng các loại thuốc đã được khuyến cáo, khi phun cần tuân thủ nguyên tắc 4 đúng.

Theo Trung tâm Khuyến nông Thanh Hóa


Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More