Chương trình theo dõi lúa ĐB sông Hồng

Ứng dụng công nghệ viễn thám đa thời gian trong công tác theo dõi lúa trên toàn vùng đồng bằng sông Hồng. Báo cáo hàng tháng được trình lên Bộ trưởng Bộ NN và PTNT.

Sử dụng tư liệu ảnh vệ tinh độ phân giải cao về thời gian

Tư liệu ảnh vệ tinh MODIS độ phân giải 250m chụp hàng ngày được thu nhận và xử lý tạo các tổ hợp 8 và 16 ngày phục vụ công tác nghiên cứu.

Nghiên cứu hạn hán hoặc ngập lụt

Bên cạnh công tác theo dõi lúa, chương trình cũng theo dõi các thảm họa thiên nhiên ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động sản xuất nông nghiệp như hạn hán, ngập lụt...

Theo dõi sâu bệnh

Theo dõi diện tích lúa bị sâu bệnh bằng phương pháp viễn thám, từ đó đưa ra mức độ cảnh báo về năng suất, chất lượng của mùa vụ.

Theo dõi quá trình xâm thực mặn

Phương pháp viễn thám được sử dụng trong công tác theo dõi xâm thực mặn từ biển gây ảnh hưởng đến quá trình canh tác sản xuất nông nghiệp và đời sống người dân...

Báo cáo kết quả trực tuyến

Các báo cáo được đăng tải hàng tháng trên trang web http://theodoilua.blogspot.com cùng bộ bản đồ trực tuyến xây dựng theo công nghệ WebGIS...

Thứ Sáu, ngày 04 tháng 9 năm 2015

Xuất khẩu gạo: Minh chứng Campuchia vượt mặt Việt Nam


VN có 20 năm XK gạo, Campuchia có 5 năm nhưng gạo Campuchia đã có mặt ở 53 quốc gia, còn gạo Việt Nam chỉ có 10.

Thua cả số lượng và chất lượng 

 Số liệu từ Văn phòng Thư ký dịch vụ một cửa về xuất khẩu gạo Campuchia cho biết, 7 tháng đầu năm nay, Campuchia xuất khẩu được 312.300 tấn gạo. So về con số tuyệt đối thì sản lượng xuất khẩu gạo của Campuchia chỉ bằng 1/10 của Việt Nam. Nhưng xét về mức độ tăng trưởng, xuất khẩu gạo của Campuchia đã tăng 53% so với cùng kỳ năm ngoái, trong khi gạo xuất khẩu của Việt Nam lại giảm.

Minh chung Campuchia vuot mat Viet Nam Gạo Việt thua Campuchia 

Xét trên cả quá trình tham gia thị trường, Việt Nam đã có 20 năm tham gia thị trường xuất khẩu gạo, Campuchia mới chỉ có 5 năm. Thế nhưng, gạo Campuchia đến nay đã có mặt ở 53 quốc gia khác nhau, và đã len lỏi được vào thị trường của các quốc gia khó tính như Mỹ, các nước EU. Hiệp tại, EU đang chiếm tới 60% lượng gạo xuất khẩu của Campuchia.

 Trong khi đó Việt Nam vẫn chỉ quanh quẩn với 10 thị trường chủ yếu là các nước có thu nhập trung bình và thấp thuộc châu Á, châu Phi.

 Tờ Nhịp cầu đầu tư cho biết, trong khi Việt Nam hiện vẫn chủ yếu chỉ xuất khẩu gạo trắng thì Campuchia còn xuất khẩu gạo thơm (gạo chất lượng cao) với tỉ lệ xấp xỉ gạo trắng, trên 44%. Cùng loại gạo trắng và bán cùng thời điểm, gạo Campuchia vẫn luôn có giá cao hơn gạo Việt Nam từ 30-50 USD/tấn.

 Campuchia đã gần như đuổi kịp Thái Lan khi có tới 8 thương hiệu để trình làng tại Hội chợ Thương mại Lương thực tổ chức ở Bangkok vào năm ngoái. Đặc biệt, 2014 là năm thứ 3 liên tiếp gạo lài Campuchia hay còn gọi là Phka Romdoul được bình chọn là loại gạo ngon nhất thế giới. Còn Việt Nam vẫn chưa có thương hiệu gạo riêng cho mình.

 Xét về thứ bậc, cách thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đều cho thấy Campuchia đã có thành quả vượt trội hơn hẳn Việt Nam. Từ một nước xếp cuối cùng bảng danh sách về xuất khẩu gạo, Campuchia đã bứt phá và trở thành đối thủ của Việt Nam.

 Đạt được kết quả này là nhờ ngay từ khâu tổ chức sản xuất, cho tới tiêu thụ Campuchia đã có những bước đi bài bản, hiệu quả.

 Thay vì đi vào số lượng như Việt Nam, ngay từ khi bắt đầu xuất khẩu, Campuchia đã chú trọng đến vấn đề chất lượng. Dù mỗi năm Campuchia chỉ đạt khoảng 3 tấn/ha, bằng 1/5 so với năng suất của Việt Nam. Nhưng gạo Campuchia lại thơm ngon, cho giá trị cao vượt trội. Đơn cử, gạo thơm Phka Malis của Campuchia hiện được bán với giá 890 USD/tấn, trong khi gạo thơm Việt Nam bán chỉ từ 650-670 USD/tấn.
Trong đó, gạo organic (gạo sạch) không sử dụng thuốc trừ sâu và phân bón hóa học còn được bán đến 1.375 USD/tấn.

Nguồn: Theo Báo Đất Việt



Thứ Năm, ngày 03 tháng 9 năm 2015

Làm gạo giỏi như Campuchia


Trong khi gạo Việt Nam chỉ tập trung ở những nước thu nhập trung bình và thấp, gạo Campuchia đã tiến sang những thị trường khó tính như Mỹ và châu Âu. 

 Số liệu từ Văn phòng Thư ký dịch vụ một cửa về xuất khẩu gạo Campuchia cho biết, 7 tháng đầu năm nay, Campuchia xuất khẩu được 312.300 tấn gạo. So về con số tuyệt đối thì sản lượng xuất khẩu gạo của Campuchia chỉ bằng 1/10 của Việt Nam. Nhưng xét về mức độ tăng trưởng, xuất khẩu gạo của Campuchia đã tăng 53% so với cùng kỳ năm ngoái, trong khi gạo xuất khẩu của Việt Nam lại giảm.

 Campuchia đi sau Việt Nam rất xa trong xuất khẩu gạo. Nếu như Việt Nam đã tham gia cuộc chơi này từ hơn 20 năm trước, thì Campuchia chỉ mới bắt đầu khoảng 5 năm trở lại. Dù vậy, gạo Campuchia đã xuất sang 53 quốc gia trên thế giới, còn gạo Việt Nam vẫn quanh quẩn với 10 thị trường chính.

 Thực tế, gạo Việt Nam chỉ tập trung ở những quốc gia có thu nhập trung bình và thấp thuộc châu Á, châu Phi. Gạo Campuchia hiện đã bán sang những thị trường khó tính như Mỹ, các nước châu Âu (EU). Hiện tại, EU chiếm 60% lượng gạo xuất khẩu của Campuchia.

 Đáng nói hơn, trong khi Việt Nam chủ yếu chỉ xuất khẩu gạo trắng thì Campuchia còn xuất khẩu gạo thơm (gạo chất lượng cao) với tỉ lệ xấp xỉ gạo trắng, trên 44%. Cùng loại gạo trắng và bán cùng thời điểm, gạo Campuchia vẫn luôn có giá cao hơn gạo Việt Nam từ 30-50 USD/tấn.

 Campuchia đã gần như đuổi kịp Thái Lan khi có tới 8 thương hiệu để trình làng tại Hội chợ Thương mại Lương thực tổ chức ở Bangkok vào năm ngoái. Đặc biệt, 2014 là năm thứ 3 liên tiếp gạo lài Campuchia hay còn gọi là Phka Romdoul được bình chọn là loại gạo ngon nhất thế giới. Còn Việt Nam vẫn chưa có thương hiệu gạo riêng cho mình.

 Về thứ hạng, từ chỗ là quốc gia đứng thứ 2 thế giới về xuất khẩu gạo, hiện Việt Nam không chỉ thua Thái Lan mà còn bị Ấn Độ, Pakistan qua mặt. Trong khi đó, Campuchia vốn xếp sau cùng bảng danh sách đã trở thành đối thủ cần chú ý. Ngay chính Giáo sư Võ Tòng Xuân, một chuyên gia nông nghiệp nổi tiếng của Việt Nam, cũng đã thừa nhận rằng Việt Nam cần học cách làm gạo của Campuchia. Theo ông, Campuchia đã sản xuất gạo với chất lượng tốt và làm thương hiệu rất bài bản.

 Trong tổ chức sản xuất gạo, Campuchia cân đối được nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp Campuchia, năm 2014, nước này sản xuất được khoảng 5,96 triệu tấn gạo. Trừ tiêu thụ trong nước, Campuchia còn hơn 3 triệu tấn gạo để xuất khẩu.

 Ngay từ khi bắt đầu xuất khẩu, Campuchia đã chú trọng đến vấn đề chất lượng. Campuchia ưu tiên chọn những giống lúa tốt và chỉ trồng một vụ, chủ yếu trồng vào mùa mưa. Vì thế, mỗi năm Campuchia chỉ đạt khoảng 3 tấn/ha, bằng 1/5 so với năng suất của Việt Nam. Nhưng gạo Campuchia lại thơm ngon, cho giá trị cao vượt trội. Đơn cử, gạo thơm Phka Malis của Campuchia hiện được bán với giá 890 USD/tấn, trong khi gạo thơm Việt Nam bán chỉ từ 650-670 USD/tấn.

 Campuchia còn tổ chức vùng nguyên liệu riêng nên từng loại gạo của Campuchia đều có chất lượng đồng nhất. Trong đó, gạo organic (gạo sạch) không sử dụng thuốc trừ sâu và phân bón hóa học nên được bán đến 1.375 USD/tấn.

 Với giá bán cao cộng thêm ít tốn kém về chi phí máy móc, phân bón, thuốc trừ sâu, cải tạo đất, tưới nước... nên lợi nhuận nông dân Campuchia kiếm được ngang ngửa với nông dân Việt Nam, dù họ nhàn hơn rất nhiều.

 Campuchia cũng rất chịu khó học hỏi. Khi có tổ chức quốc tế như Trung tâm Thương mại Quốc tế (ITC) hỗ trợ, từ giúp xác định giống lúa chất lượng cao nhất, giúp doanh nghiệp tổ chức nông dân trồng lúa hay giúp xây dựng nhà máy chế biến hiện đại để nâng cao chất lượng gạo, Campuchia luôn lắng nghe và làm theo hướng dẫn. Vì thế, theo Giáo sư Võ Tòng Xuân, Campuchia đã sản xuất lúa gạo theo chuỗi giá trị. Ðây là điều mà Việt Nam nói mãi nhưng chưa làm được.

 Campuchia luôn tranh thủ mọi cơ hội có thể để quảng bá gạo của mình. Có cả một chương trình hỗ trợ để gạo Campuchia được chào hàng rộng rãi. Gạo Campuchia luôn có mặt ở các hội chợ, triển lãm quốc tế dù đó chỉ có 2 nước Thái Lan, Campuchia tham gia như đã diễn ra vào năm ngoái. Việt Nam trái lại, vẫn thụ động và vắng bóng trong các hoạt động tiếp thị ra bên ngoài.

 Campuchia đặt ra mục tiêu xuất khẩu 1 triệu tấn gạo trắng vào cuối năm 2015. Tuy có những trở ngại về năng lực xay xát, vốn, cơ sở hạ tầng, nhưng doanh nghiệp gạo của Campuchia lại có được hậu thuẫn từ Chính phủ như phí hải quan xuất khẩu gạo đã bãi bỏ. Đặc biệt, tháng 5.2014, Campuchia đã sáp nhập 3 cơ quan trong ngành gạo để lập ra Hiệp hội Gạo. Việc này đã loại bỏ những cạnh tranh tốn kém không đáng có giữa các cơ quan quản lý, đồng thời giúp xác định rõ ràng hơn về mục tiêu chung và tạo ra tiếng nói thống nhất để tiếp thị, vận động cho gạo Campuchia.

 Campuchia không ngại xông pha khắp nơi để bán gạo. Họ đến cả những siêu thị ở Anh, Pháp để tìm hiểu, biếu gạo rồi chào hàng. Năm 2013, các doanh nghiệp Campuchia còn dọ dẫm sang thị trường Mỹ. Việt Nam thì vẫn trung thành với hình thức bán hàng qua trung gian, chưa tiếp cận nhà phân phối trực tiếp. Việt Nam lại dựa nhiều vào những thị trường có hợp đồng Chính phủ như Philippines, Malaysia, Indonesia... Vì thế, khi các nước này giảm nhập khẩu gạo, Việt Nam bị bế tắc về đầu ra.

 Trên thực tế, sự năng động của Campuchia được xác định là do nước này cởi mở trong chính sách khuyến khích doanh nghiệp tham gia xuất khẩu gạo. Đến nay, đã có 72 công ty tham gia vào hoạt động này. Ngoài ra, Chính phủ Campuchia còn cho phép tư nhân tham gia vào mảng vận hành, bảo trì 10 kho lúa với sức chứa 1,2 triệu tấn lúa/gạo mà Campuchia sẽ khởi xây trong tương lai. Ở đó, nông dân và cơ sở xay xát cũng được khuyến khích trữ lúa với một mức phí nhất định và có thể sử dụng lượng lúa gạo trong kho để thế chấp vay ngân hàng. Đây là động thái nhằm đảm bảo nguồn cung ổn định cho các nhà máy xay xát và nhà xuất khẩu.

Nguồn: Theo nhipcaudautu.vn



Thứ Ba, ngày 01 tháng 9 năm 2015

Việt Nam tận dụng cơ hội xuất khẩu gạo nhờ hiện tượng El Nino


Hiện tượng El Nino gây hạn hán, sản lượng lúa gạo ở Philipines và Thái Lan giảm là cơ hội tốt cho các doanh nghiệp xuất khẩu gạo tại Việt Nam. 

Theo thống kê của Hiệp hội Lương thực Việt Nam, trong tuần 21-27/8, giá lúa khô tại kho khu vực ĐBSCL loại thường dao động từ 4.800 - 4.900 đ/kg, lúa dài khoảng 5.100 – 5.200 đ/kg.

 Giá gạo nguyên liệu loại 1 làm ra gạo 5% tấm hiện khoảng 6.400 – 6.500 đ/kg tùy từng địa phương, gạo nguyên liệu làm ra gạo 25% tấm là 6.100 – 6.200 đ/kg tùy chất lượng và địa phương.

 Giá gạo thành phẩm 5% tấm không bao bì tại mạn hiện khoảng7.100 – 7.200 đ/kg, gạo 15% tấm 6.850 – 6.950 đ/kg và gạo 25% tấm khoảng 6.750 – 6.850 đ/kg tùy chất lượng và địa phương.

 Tính đến ngày 27/8, theo số liệu của Cục Trồng trọt - Bộ Nông nghiệp & PTNT, các tỉnh, thành phố vùng ĐBSCL đã xuống giống vụ Hè Thu năm 2015 được khoảng 1,668 triệu ha/ 1,6 triệu ha diện tích kế hoạch, thu hoạch Hè Thu khoảng 1,020 triệu ha với năng suất khoảng 5,5-5,6 tấn/ha, sản lượng khoảng 5,66 triệu tấn lúa.

 Các tỉnh, thành phố vùng ĐBSCL đã xuống giống vụ Thu Đông 2015 được khoảng 640.000 ha/ 830.000 ha diện tích kế hoạch.

 Kết quả xuất khẩu gạo từ ngày 01/7 đến ngày 20/8 đạt 191.304 tấn, trị giá FOB 80,872 triệu USD, trị giá CIF 83,283 triệu USD. Lũy kế xuất khẩu từ ngày 01/1 đến ngày 20/8/2015 đạt 3,492 triệu tấn, trị giá FOB 1,448 tỷ USD, trị giá CIF 1,493 tỷ USD.

 Trong tuần qua, các vụ nổ bom tại trung tâm mua sắm và khu du lịch tại Thái Lan khiến ít nhất 21 người chết, hàng trăm người bị thương, tin tức chấn động thế giới. Thị trường uể oải và giá giảm do USD tăng, làm cho phần lớn đồng tiền châu Á yếu so với đồng USD.

 Hầu hết hoạt động thương mại dường như tập trung vào vụ cũ hoặc gạo pha trộn. Trong khi đó, theo đánh giá của các doanh nghiệp, giá gạo Việt Nam, Pakistan rẻ hơn và thậm chí là lựa chọn mới đến từ Ấn Độ sẽ gây áp lực lên Thái Lan, do giá vụ mới của Thái Lan cao hơn. Đây sẽ là tín hiệu đáng mừng cho các doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu gạo Việt Nam sang Thái Lan.

 Tại thị trường Philippines, theo số liệu thống kê từ Tổng cục Hải Quan, xuất khẩu gạo sang thị trường Philippines quý I/2015 giảm mạnh cả về lượng và kim ngạch. Cụ thể giảm 41% về lượng và giảm 45,69% về kim ngạch (đạt 245.970 tấn, tương đương 103,52 triệu USD.

 Nguyên nhân do giá mua quá thấp, chủ doanh nghiệp không muốn bán nên lượng gạo tồn kho đang rất lớn. Đồng thời hợp đồng ký mới đầu năm cũng hạn chế do thiếu nhu cầu, nhất là thiếu hợp đồng tập trung.

 Giới chuyên gia trong ngành nhận định, hiện tượng El Nino ở Philippines có thể sẽ kéo dài đến năm 2016 khiến tình trạng khô hạn liên tiếp diễn ra, sản lượng lúa gạo giảm.

 Khi sản lượng lúa gạo giảm bắt buộc Philippines phải lên kế hoạch tăng sản lượng lúa gạo nội địa trong năm 2016 đồng thời tăng nhập khẩu gạo trong năm 2015 nhằm đáp ứng nhu cầu nội địa.

 Tác động do El Nino gây khô hạn ở Philippines cùng với dự báo sản lượng giảm sẽ là tin tốt đối với Việt Nam, một trong những nhà xuất khẩu lớn đến Philippines; cải thiện tình hình xuất khẩu giảm trong suốt những tháng đầu năm 2015.

 Mặc dù hiện tượng El Nino diễn ra ở các nước Philippines, Thái Lan là “cơ hội” lớn cho các nhà xuất khẩu gạo Việt Nam sang hai thị trường này song cũng có những khó khăn mà Việt Nam phải ứng phó.

 Theo truyền thông Thái Lan, các nỗ lực dẫn nước từ sông Mekong và sông Salween nhằm giảm thiểu tác động của hạn hán gần đây và giải quyết các nhu cầu quản lý nước tốt hơn để hỗ trợ nông dân Thái Lan. Kế hoạch dẫn nước lấp đầy các đập ở Thái Lan sẽ khiến các hoạt động ở thượng nguồn sẽ để lại tác động về sản xuất lương thực ở đồng bằng sông Cửu Long.

 Nước mặn xâm nhập diễn ra tại đồng bằng sông Cửu Long là vấn đề quan trọng, gây giảm diện tích gieo trồng và giảm cung cấp nước thêm nữa từ việc biến đổi dòng chảy dự báo gây xâm mặn hơn.

Nguồn: Theo vinanet.vn



El Nino khiến giới đầu tư đổ tiền vào thị trường gạo châu Á


Thị trường dự đoán giá gạo châu Á sẽ tăng khi El Nino ảnh hưởng xấu đến sản lượng trong khi lượng gạo lưu kho cũng ngày càng giảm. 

 Không có gì sai với quan điểm này nhưng trong mọi trường hợp đều có những yếu tố cân bằng khiến đồn đoán giá gạo tăng chưa hẳn đã chắc chắn đúng như diễn biến trong thời gian gần đây về giá ngũ cốc - lương thực của 2/3 dân số thế giới.

 Giá gạo 5% tấm Thái Lan tăng 10% từ mức thấp nhất 7 năm rưỡi ở 367,5 USD/tấn hôm 24/6 lên đỉnh 405 USD/tấn hôm 17/7. Tuy nhiên, từ đó, giá gạo đã giảm trở lại xuống mức đáy mới 362,5 USD/tấn hôm 27/8.

 Nguyên nhân của tình trạng này một phần là do tình trạng đình đốn của hầu hết các thị trường hàng hóa và một phần do người mua luôn yêu cầu giá bán thấp hơn do baht Thái mất giá.

 Baht Thái đã giảm 10% so với USD kể từ mức đỉnh 2015 ghi nhận hồi tháng 4 ở 32,33 baht/USD xuống 35,64 baht/USD hôm 27/8 vừa qua. Baht giảm giá kéo giảm giá gạo tính bằng đồng tiền này, nhưng từ đầu năm đến nay chỉ giảm 6% - chưa bằng ½ so với mức giảm 13% nếu tính bằng USD.

 Tình trạng tương tự cũng diễn ra đối với các nước xuất khẩu gạo đối thủ của Thái Lan - Việt Nam - khi đồng Việt Nam cũng giảm 6,7% so với USD từ mức đỉnh của năm hồi đầu tháng 2 xuống 22.534 đồng/USD hôm thứ Năm 27/8.

 Từ đầu năm đến nay, giá gạo 5% tấm của Việt Nam đã giảm 12,9% xuống 337,5 USD/tấn, nhưng nếu tính bằng nội tệ, giá gạo chỉ giảm 8,2%.

 Với viễn cảnh USD tiếp tục mạnh lên, nhất là với các đồng tiền thị trường mới nổi, người mua có cơ hội gia tăng áp lực buộc người bán hạ giá hơn nữa (bằng USD).

 Nhưng mọi chuyện có thể sẽ khác khi xét đến việc hiện tượng El Nino đang gây ra thời tiết khô hạn ở Đông Nam Á và Úc trong khi lại khiến thời tiết ở Bắc Mỹ trở nên ẩm ướt hơn.

 Các nhà dự báo thời tiết đều đã tăng dự báo về tác động của El Nino - có thể kéo dài sang năm 2016 và khiến sản lượng lúa gạo sụt giảm cũng như sản lượng lúa mỳ của Úc, đậu nành ở Ấn Độ và ngô ở Trung Quốc.

 Khi sản lượng lúa gạo giảm, sẽ phải bù đắp bằng lượng gạo lưu kho, nhưng sẽ cần thêm bao nhiêu gạo và liệu có đủ để làm giảm lượng gạo lưu kho khổng lồ của Thái Lan - kết quả của nhiều chương trình trợ giá lúa gạo của chính phủ?

 Indonesia - vốn là nước nhập khẩu ròng gạo nhưng đang nỗ lực đạt được mục tiêu tự túc lúa - gạo - vẫn dự đoán sản lượng gạo năm 2015 tăng 7% bất chấp El Nino.

 Tuy nhiên, theo giới phân tích, hiện tượng El Nino có thể ảnh hưởng xấu đến hoạt động canh tác của Indonesia, kéo giảm sản lượng, buộc Indonesia phải nhập khẩu 1,6 triệu tấn gạo trong năm nay.

 Philippines, một nước nhập khẩu ròng gạo khác, cũng đang lên kế hoạch tăng sản lượng lúa gạo nội địa trong năm 2016 nhưng vẫn tăng cường nhập khẩu gạo trong năm 2015 nhằm đáp ứng nhu cầu nội địa do sản lượng giảm.

 Từ đầu năm đến nay, Cơ quan Lương thực Quốc gia Philippines (NFA) đã nhập khẩu 750.000 tấn gạo và có thể nhập khẩu thêm 250.000 tấn nữa trước khi năm nay kết thúc. Lĩnh vực tư nhân cũng được phép nhập khẩu 805.200 tấn gạo vào 30/11 với thuế suất 35%.

 Theo số liệu của chính phủ Trung Quốc, sản lượng gạo vụ 1 năm 2015 của nước này giảm 0,9% xuống 33,69 triệu tấn, khiến nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới này có thể phải tăng nhập khẩu gạo trong năm nay.

 Tuy các nước nhập khẩu gạo hàng đầu châu Á sẽ tăng nhập khẩu, song vẫn còn vấn đề về lượng gạo lưu kho lớn cần được được làm rõ.

 Trong số 13 triệu tấn gạo lưu kho quốc gia của Thái Lan chỉ có 9 triệu tấn có thể sử dụng cho tiêu dùng của người, theo Tổ chức Nông lương Liên Hợp Quốc (FAO).

 FAO cũng cho biết, lượng gạo lưu kho của 5 nước xuất khẩu lớn nhất thế giới đang giảm sau khi xuất khẩu tăng mạnh trong năm 2014 và tỷ lệ tồn kho/sử dụng - lượng gạo lưu kho so với tiêu thụ nội địa và xuất khẩu - niên vụ 2015-2016 sẽ giảm xuống 19%, thấp nhất kể từ năm 2007-2008. Điều này cho thấy nguồn cung ngày càng thắt chặt hơn.

 Nguồn: Theo Reuters



Thứ Hai, ngày 31 tháng 8 năm 2015

Gỡ “nút thắt” trong xuất khẩu gạo


Đơn giản cơ chế, xây dựng thương hiệu sản phẩm quốc gia, thúc đẩy tư duy sản xuất hàng hóa… là những giải pháp căn cơ được nhiều chuyên gia khuyến cáo nhằm tháo gỡ khó khăn cho XK gạo của Việt Nam, tiến tới nâng cao giá trị gia tăng và đảm bảo sự phát triển vững bền ngành lúa gạo trong tương lai. 

Việt Nam đã và đang đối mặt với nhiều thách thức và áp lực cạnh tranh lớn
 từ các nước trong khu vực. 

“Tuột dốc” không phanh 

 Suốt từ đầu năm đến nay, XK gạo đang trong đà sụt giảm cả lượng lẫn giá so với năm trước. Thống kê mới nhất của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) cho thấy: 8 tháng đầu năm, XK gạo ước đạt gần 4,1 triệu tấn và 1,76 tỷ USD, giảm 8,6% về khối lượng và giảm hơn 13% về giá trị so với cùng kỳ năm 2014.

 Giá gạo XK bình quân 7 tháng đầu năm chỉ đạt 429,07 USD/tấn, giảm 5,33% so với cùng kỳ năm trước. Trung Quốc vẫn là thị trường NK gạo lớn nhất của Việt Nam trong 7 tháng đầu năm với 35,21% thị phần. Tuy nhiên, XK sang thị trường này cũng thể hiện sự sụt giảm rõ rệt so với cùng kỳ năm trước, với mức giảm 7,2% về khối lượng và 12,46% về giá trị. Đặc biệt, trong 7 tháng đầu năm, giá trị XK gạo sang 3 thị trường Philippines, Singapore và Hồng Kông (Trung Quốc) có sự sụt giảm đột biến so với cùng kỳ năm trước. Các mức giảm lần lượt là 38,58%; 36,84% và 34,49%.

 Nhìn vào “bức tranh” XK ảm đạm của lúa gạo Việt Nam, ông Trần Xuân Định, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt (Bộ NN&PTNT) nhận định khó khăn trong XK lúa gạo sẽ còn kéo dài khoảng 1-2 năm tới. XK lúa gạo Việt Nam đã và đang đối mặt với nhiều thách thức. Đó là áp lực cạnh tranh lớn với các nước trong khu vực như: Thái Lan, Ấn Độ, Lào, Campuchia, Mianmar… Mỗi năm Việt Nam XK khoảng 6-7 triệu tấn gạo nhưng lợi nhuận còn thấp. Giá XK gạo của Việt Nam luôn thấp hơn nước láng giềng Thái Lan.

 “Bên cạnh đó, bản thân những khách hàng lớn, quen thuộc của Việt Nam như Philippines, Indonesia cũng có chiến lược để gia tăng sản xuất nhằm từng bước tự túc nguồn cung. Điều này sẽ khiến thị trường XK ngày càng eo hẹp lại. Ngoài ra, XK gạo Việt Nam vẫn chủ yếu phụ thuộc thị trường Trung Quốc. Sự dễ dãi của thị trường này đang “làm cùn” nông dân Việt Nam, đặt ra yêu cầu cấp bách cần đổi thay để nâng cao giá trị gia tăng cho ngành hàng”, ông Định nói.

 “Cởi trói” cho doanh nghiệp 

 Những bất cập của ngành lúa gạo bao năm nay như sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, chất lượng thiếu đồng đều, chưa xây dựng được thương hiệu hay quá lệ thuộc thị trường Trung Quốc không hề mới mẻ.

 Để thực sự “xốc” lại ngành hàng này, TS. Trần Văn Khởi, Phó Giám đốc Trung tâm khuyến nông quốc gia cho rằng mấu chốt vẫn là phải tháo gỡ khó khăn, tạo cơ hội cho các DN thúc đẩy XK. “Cơ chế XK gạo hiện đang bó buộc DN khi yêu cầu các DN muốn XK phải đảm bảo nhiều yếu tố như có năng lực kho chứa lớn, có nhà máy chế biến… Cách làm này vô hình trung khiến cho lợi ích chỉ rơi vào tay các DN lớn, còn các DN quy mô vừa và nhỏ khó tham gia “sân chơi”. Tại Thái Lan, các quy định để DN có thể tham gia XK gạo khá đơn giản. Thậm chí, với DN XK loại gạo đóng gói dưới 12kg/bao, DN muốn XK bao nhiêu cũng được”, TS. Khởi nhấn mạnh.

 Đồng tình với quan điểm này, theo ông Trần Mạnh Báo, Tổng giám đốc Tổng công ty Giống cây trồng Thái Bình: Hiện nay, XK gạo đã khó khăn mà quy định vẫn yêu cầu DN muốn XK phải có giấy phép là không hợp lý. Đưa ra so sánh nhiều năm trước đây NK giống lúa cũng cần phải có giấy phép, sau khi DN kiến nghị quy định về giấy phép được xóa bỏ nên thị trường giống lúa mới sôi động dần lên, ông Báo cho rằng, kinh tế ngày một hội nhập, chỉ cần DN có nguồn hàng, có đối tác kết nối được là cho phép XK gạo chứ không nên tự trói buộc bằng giấy phép.

 Liên quan tới vấn đề làm thế nào để nâng cao sức cạnh tranh cho sản phẩm lúa gạo, GS. TS Vũ Văn Yết, Phó Giám đốc Học Viện Nông nghiệp Việt Nam nhấn mạnh, điều quan trọng là phải thay đổi tư duy, cách sản xuất của người nông dân trồng lúa từ lối tự cung tự cấp, có gì bán nấy sang tư duy sản xuất hàng hóa. Cần xác định rõ ràng, phải sản xuất lúa gạo đạt tiêu chuẩn, chất lượng cao để ngày càng cạnh tranh trên thị trường thế giới.

 “Một trong những điểm yếu lớn của XK gạo Việt Nam còn là chưa xây dựng được thương hiệu. Tôi cho rằng việc này cần nhanh chóng khắc phục thông qua việc lựa chọn một số giống lúa tốt của Việt Nam, cải tiến để trở thành mặt hàng mang thương hiệu quốc gia, đồng thời quảng bá rộng rãi cho thương hiệu này”, GS. TS Vũ Văn Yết nhấn mạnh.

 Xung quanh vấn đề này, TS. Trần Công Thắng, Phó viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn (Ipsard) cho biết: Hiện nay, Đề án Tái cơ cấu ngành lúa gạo đang được hoàn thiện và dự kiến 1 - 2 tháng nữa sẽ trình Bộ NN&PTNT phê duyệt, sau đó trình lên Chính phủ.

 Trong Đề án, một trong những giải pháp quan trọng để từng bước nâng cao giá trị gia tăng, thúc đẩy XK lúa gạo bền vững là thu hút DN vào xây dựng vùng chuyên canh trong tổ chức sản xuất; hình thành liên kết lâu dài giữa các hợp tác xã với DN nòng cốt và tạo điều kiện cho các DN này tham gia XK.

 Đặc biệt, Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) sẽ chuyển từ hình thức tổ chức chỉ tập trung vào DN lớn, nhất là DN Nhà nước sang thu hút các đại diện của địa phương sản xuất lúa, đại diện nông dân và hợp tác xã trực tiếp trồng lúa, đại diện thương lái, đại diện DN tư nhân, DN vừa và nhỏ tham gia vào hoạt động kinh doanh lúa gạo, đại diện của các cơ quan quản lý Nhà nước để đảm bảo công bằng trong hoạt động.

 Dự báo 10 năm tới, nhu cầu NK gạo trên thị trường thế giới cũng tiếp tục tăng lên, với mức tăng bình quân 1,5%/năm.
 Về XK, 10 năm tới Thái Lan và Việt Nam sẽ chiếm hơn 47% XK gạo thế giới và đóng góp 87% tăng trưởng XK toàn cầu. Ngoài Thái Lan, các đối thủ cạnh tranh của Việt Nam sẽ gồm Ấn Độ, Pakistan, Mỹ. Myanmar cũng có triển vọng trở thành một nước XK gạo lớn tại châu Á nhưng khả năng cạnh tranh với Việt Nam chưa rõ ràng.

Nguồn: Theo Báo Hải quan



Ảnh hưởng trên thị trường lúa gạo: Biến động tỷ giá lấn át El Nino


Thị trường lúa gạo năm 2015 trong tình trạng cảnh báo giá gạo châu Á có thể sẽ tăng bởi El Nino làm giảm sản lượng và lượng tồn trữ khổng lồ đang giảm dần. 

 Quan điểm này không sai, nhưng trên thực tế thị trường gạo đang chịu tác động nhiều hơn từ những yếu tố khác, thể hiện qua việc giá loại lương thực chính của 2/3 dân số thế giới biến động khá mạnh trong thời gian gần đây.

 Gạo 5% tấm của Thái Lan đã tăng giá 10% từ mức thấp nhất 7 năm rưỡi là 367,50 USD/tấn hôm 24/6 lên mức cao nhất từ đầu năm tới nay là 405 USD/tấn hôm 17/7. Tuy nhiên, giá chỉ tăng trong một thời gian rất ngắn, kể từ đó, giá đã giảm trở lại, và chạm mức thấp mới chỉ 362,50 USD/tấn hôm 27/8.

 Thị trường gạo cũng đang trong tinh trạng bất ổn chung như hầu hết các thị trường hàng hóa khác, song có một nguyên nhân riêng là khách hàng yêu cầu hạ giá bán khi đồng baht Thái trượt giá.

 Baht đã mất 10% giá trị so với USD kể từ tháng 4 tới nay. Từ mức cao điểm của năm nay là 32,33 THB/USD hồi tháng 4 xuống 35,64 THB/USD hôm 27/8.

 Baht mất giá khiến cho giá gạo tính theo đồng baht cũng giảm theo, mất khoảng khoảng 6% từ đầu năm tới nay nếu tính theo đồng baht, nhưng nếu tính theo USD thì giảm tới 13,3%.

 Tình huống của các nước xuất khẩu gạo khác trong khu vực, như Việt Nam, cũng tương tự như của Thái Lan. Tiền đồng của Việt Nam (VND) giảm 6,7% so với USD từ mức cao nhất năm nay – đầu tháng 2 – xuống 22.534 VND/USD hôm 27/8.

 Giá gạo 5% tấm của Việt Nam đã giảm 12,9% từ đầu năm tới nay tính theo USD, xuống 337,50 USD/tấn, nhưng nếu tính theo nội tệ thì chỉ giảm 8,2%.

 Với triển vọng USD sẽ còn tiếp tục tăng, nhất là so với tiền tệ của những nền kinh tế mới nổi, khách hàng sẽ còn cơ hội để gia tăng sức ép hơn nữa lên các nhà xuất khẩu gạo để đòi giá giảm thêm.

 El Nino thực sự làm giảm sản lượng 

 Vậy El Nino đã gây ra hậu quả gì? Thời tiết ở Đông Nam Á và Australia trở nên khô nóng, và ở Bắc Mỹ trở nên ẩm ướt.

 Các chuyên gia khí tượng đã nâng dự báo về cường độ của El Nino, dự kiến sẽ kéo dài sang năm 2016 và chắc chắn sẽ làm giảm sản lượng gạo của nhiều quốc gia trong khu vực, giảm sản lượng lúa mì Australia, đậu tương Ấn Độ và ngô Trung Quốc.

 Với lúa gạo, sản lượng giảm sẽ được bù đắp ngay bởi lượng tồn trữ, nhưng sản lượng sẽ giảm bao nhiêu và có ảnh hưởng tới “núi” gạo dự trữ của Thái Lan hay không? Vấn đề này chưa có câu trả lời chính xác.

 Indonesia là quốc gia có truyền thống nhập khẩu gạo, nhưng đang cố gắng tự cung tự cấp và dự báo sẽ có sản lượng tăng 7% trong năm 2015 bất chấp El Nino. Tuy nhiên, các nhà phân tích cho biết El Nino có thể làm chậm tiến độ gieo trồng lúa, nên họ sẽ phải nhập khẩu dự kiến khoảng 1,6 triệu tấn gạo trong năm nay để ngăn lạm phát giá gạo trên thị trường nội địa, trong bối cảnh giá gạo tại Indonesia vốn đã cao thứ 2 trong khu vực Đông Nam Á.

 Philippines, một nước nhập khẩu lớn khác, cũng có kế hoạch tăng sản lượng lúa gạo nội địa năm 2016, nhưng sẽ vẫn phải tăng nhập khẩu trong năm 2015 để bù lấp sản lượng trong nước giảm. Chính phủ Philippines đã mua 750.000 tấn gạo trong năm nay và có thể nhập khẩu 250.000 tấn từ nay tới cuối năm. Tư thương nước này cũng có thể nhập khẩu tới 805.200 tấn trước 30/11 với mức thuế 35%.

 Sản lượng lúa vụ sớm 2015 của Trung Quốc đã giảm 0,9% xuống 33,69 triệu tấn so với cùng vụ năm ngoái, theo số liệu thống kê chính thức, tức là rất có khả năng nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới này sẽ phải tăng nhập khẩu gạo từ nay tới cuối năm.

 Các nhà phân tích cho rằng các nước nhập khẩu gạo hàng đầu châu Á sẽ tăng cường mua gạo trong thời gian tới, vậy thì lượng tồn trữ dù lớn hiện nay có đủ đáp ứng nhu cầu đó hay không?

 Lượng tồn trữ gạo của chính phủ Thái tích từ những chương trình thu mua tạm trữ trước hiện vào khoảng 13 triệu tấn, nhưng chỉ có khoảng 9 triệu tấn còn đủ chất lượng làm lương thực cho con người, bởi thời gian bảo quản lâu nên hư hỏng nhiều, theo Tổ chức Nông Lương Liên Hiệp Quốc (FAO).

 FAO cho biết thêm rằng tồn trữ gạo của 5 nước xuất khẩu hàng đầu thế giới đang giảm dần đều, sau khi xuất khẩu mạnh trong năm 2014, và tỷ lệ tồn trữ-sử dụng (tồn trữ so với tiêu thụ và xuất khẩu) sẽ giảm xuống 19% trong niên vụ 2015/16, mức thấp nhất kể từ niên vụ 2007/08. Điều này chứng tỏ nguồn cung đang giảm sút, mặc dù còn khá nhiều để sử dụng trong giai đoạn El Nino.

 Như vậy xét về các yếu tố cơ bản thì giá gạo sẽ tăng, nhưng thị trường này vẫn bị ảnh hưởng nhiều bởi xu hướng tỷ giá tiền tệ, trong bối cảnh các nhà xuất khẩu đang tận dụng cơ hội nội tệ giảm giá so với USD để gia tăng xuất khẩu.

Nguồn: Theo InfoNet/Reuters 



Thứ Sáu, ngày 28 tháng 8 năm 2015

Xuất khẩu gạo sang Malaysia tăng gần 100%


Trong khi xuất khẩu vào một số thị trường lớn gặp không ít khó khăn, thì khối lượng gạo bán sang Malaysia trong 7 tháng đầu năm 2015 lại đạt mức tăng trưởng rất tốt, gần 100% so với cùng kỳ năm ngoái. 

 Theo số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 7 tháng đầu năm 2015, xuất khẩu gạo cả nước đạt khoảng 3,72 triệu tấn, trị giá xuất khẩu đạt 1,59 tỉ đô la Mỹ, trong đó xuất sang thị trường Maylaysia đạt gần 325.000 tấn với trị giá khoảng 139 triệu đô la Mỹ, tăng 95,9% về khối lượng và 74,2% về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái.

 Còn số liệu báo cáo của Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), cho thấy tính đến ngày 20-6-2015, chỉ riêng doanh nghiệp hội viên của đơn vị này đã ký bán cho Malaysia được tổng cộng 445.000 tấn gạo các loại.

 Với tình hình xuất khẩu sang Malaysia khá tốt như vậy, dự báo khả năng bán được thêm gạo sang thị trường này sẽ còn gia tăng trong những tháng cuối năm nay.

 Trong khi đó, số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho thấy kim ngạch xuất khẩu gạo sang một số thị trường lớn của Việt Nam như Trung Quốc, Philippines, Singapore, Hồng Kông lại sụt giảm khá mạnh.

 Cụ thể, đối với thị trường Trung Quốc, dù vẫn tiếp tục duy trì được là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam, nhưng khối lượng bán vào đây trong 7 tháng đầu năm nay đã giảm 7,2% và về giá trị giảm đến 14,46% so với cùng kỳ; xuất sang Philippines cũng giảm 34,34% về khối lượng và 38,58% về giá trị; sang Singapore giảm 40,48% về khối lượng và 36,84% về giá trị; sang Hồng Kông- thị trường tiêu thụ gạo thơm lớn của Việt Nam trong những năm gần đây- đã giảm 28,45% về khối lượng và 34,49% về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái.

 Còn nếu tính chung trong 8 tháng đầu năm 2015, xuất khẩu gạo cả nước đạt 4,09 triệu tấn, trị giá đạt 1,76 tỉ đô la Mỹ, giảm 8,6% về khối lượng và 13,1% về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái.

 Về diễn biến giá xuất khẩu, ông Nguyễn Thanh Phong, Giám đốc doanh nghiệp Vạn Lợi (Tiền Giang), cho biết gạo 5% tấm hiện được doanh nghiệp kinh doanh chào bán với giá chỉ 325-335 đô la Mỹ/tấn, giảm 15 đô la Mỹ/tấn và gạo 25% tấm có giá 315-325 đô la Mỹ tấn, giảm 10 đô la Mỹ/tấn so với mức giá hồi đầu tháng 8-2015.

 Trong khi đó, giá lúa gạo thị trường nội địa hiện cũng giảm bình quân khoảng 100 đồng/kg so với mức giá hồi tuần rồi.

 Cụ thể, lúa IR 50404 (tươi) hiện được thương lái mua tại ruộng với giá chỉ 4.250-4.300 đồng/kg và 6.150-6.200 đồng/kg đối với gạo nguyên liệu của giống IR 50404.

Nguồn: Theo Thời báo kinh tế Sài Gòn



Thứ Năm, ngày 27 tháng 8 năm 2015

Xuất khẩu gạo sang Trung Quốc giảm nhẹ


Theo số liệu mới nhất của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, khối lượng gạo xuất khẩu tháng 8 năm 2015 ước đạt 505 nghìn tấn với giá trị đạt 228 triệu USD. 

 Với khối lượng tháng 8 như trên, tính tổng 8 tháng đầu năm 2015, gạo xuất khẩu ước đạt 4,09 triệu tấn và 1,76 tỷ USD, giảm 8,6% về khối lượng và giảm 13,1% về giá trị so với cùng kỳ năm 2014.

 Giá gạo xuất khẩu bình quân 7 tháng đầu năm 2015 đạt 429,07 USD/tấn, giảm 5,33% so với cùng kỳ năm 2014.

 Về thị trường xuất khẩu, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam trong 7 tháng đầu năm 2015 với 35,21% thị phần. Tuy nhiên, 7 tháng đầu năm 2015 xuất khẩu gạo sang thị trường Trung Quốc có xu hướng giảm so với cùng kỳ năm 2014 (giảm 7,2% về khối lượng và giảm 12,46% về giá trị).

 Đáng chú ý nhất là thị trường Malaysia có sự tăng trưởng đột biến trong 7 tháng đầu năm 2015, tăng 95,96% về khối lượng và tăng 74,22% về giá trị, vươn lên vị trí thứ 3 về thị trường nhập khẩu gạo của Việt Nam, chiếm 8,71% thị phần.

 Các thị trường có sự giảm đột biến trong 7 tháng đầu năm 2015 so với cùng kỳ năm 2014 là Phillipin (giảm 34,34% về khối lượng và giảm 38,58% về giá trị), Singapore (giảm 40,48% về khối lượng và giảm 36,84% về giá trị), và Hồng Kông (giảm 28,45% về khối lượng và giảm 34,49% về giá trị).

 Tại thị trường nội địa, lúa gạo các tỉnh ĐBSCL vẫn chưa sôi động trở lại do hoạt động xuất khẩu gạo chậm chạp. Tuy nhiên, giá lúa Hè Thu tại một số tỉnh ở vựa lúa ĐBSCL trong 20 ngày đầu tháng 8/2015 đã tăng nhẹ do giá cám gạo đột ngột tăng lên.

 Hiện lúa Hè Thu đã thu hoạch được hơn 50% diện tích, tại các tỉnh miền Tây, nông dân đang bán lúa với giá có lãi và chưa có dấu hiệu tồn đọng.

 Theo một số doanh nghiệp, nguyên nhân là do thời gian gần đây tình hình xuất khẩu gạo chậm lại, lượng gạo lứt được doanh nghiệp sử dụng chế biến phục vụ xuất khẩu cũng giảm, dẫn đến nguồn nguyên liệu (cám gạo) về chậm đẩy giá tăng lên.

 Bên cạnh đó, giá lúa Hè Thu tăng còn có nguyên nhân tại một số nơi được cho là vẫn còn diện tích chưa thu hoạch xong và chất lượng gạo ở khu vực ĐBSCL cũng tăng lên đáng kể.

Nguồn: Theo vinanet.vn



Chớp cơ hội xuất khẩu gạo


Cơ hội xuất khẩu gạo cho các doanh nghiệp Việt Nam được dự báo tương đối sáng sủa khi thương mại lúa gạo toàn cầu 10 năm tới được dự báo sẽ tăng 1,5% mỗi năm. Tuy nhiên, nhiều bất cập của ngành lúa gạo được điểm huyệt như sản xuất manh mún, chưa có thương hiệu, cơ chế xuất khẩu đang bó buộc… khiến ngành lúa gạo muốn nâng cao năng lực cạnh tranh, xây dựng nền sản xuất hàng hóa thì buộc phải tái cấu trúc mạnh mẽ.

Dự báo về triển vọng tình hình thị trường gạo thế giới trong 10 năm tới, ông Trần Công Thắng, Phó Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn, cho biết thương mại gạo toàn cầu sẽ tăng 1,5% mỗi năm nhờ tốc độ tăng trưởng ổn định của cầu, nhiều nước nhập khẩu không thể đẩy mạnh sản xuất do hạn chế về điều kiện tự nhiên, nguồn lực và dịch bệnh. Cơ hội mở rộng thị trường lúa gạo khi nước ta tham gia các hiệp định thương mại mới TPP, liên minh thuế quan… ngày càng tăng.

 Thái Lan, Việt Nam giữ ngôi "vương" 

 Nhập khẩu gạo của châu Phi và Trung Đông dự báo tiếp tục tăng do sự gia tăng nhanh chóng của dân số và thu nhập, trong khi sản xuất bị hạn chế bởi điều kiện tự nhiên. Đối với Trung Quốc, diện tích trồng lúa giảm nhưng có thể năng suất lúa sẽ tăng nếu Chính phủ nước này cho phép sản xuất lúa biến đổi gen. Tiêu thụ gạo/đầu người của Trung Quốc giảm do thu nhập tăng lên, người dân giảm lượng gạo tiêu thụ trong khẩu phần, nhưng để đảm bảo an ninh lương thực, Trung Quốc sẽ vẫn duy trì kho dự trữ lúa gạo ở mức cao.

 Indonesia cũng sẽ cùng với Trung Quốc là hai nước nhập khẩu gạo lớn nhất thế giới. Trong 10 năm tới, Thái Lan và Việt Nam sẽ chiếm hơn 47% xuất khẩu gạo thế giới và đóng góp 87% tăng trưởng xuất khẩu toàn cầu.

 Bên cạnh cơ hội, ngành lúa gạo của Việt Nam còn nhiều thách thức. Ông Trần Xuân Định cho rằng, trước hết là áp lực cạnh tranh lớn với các nước trong khu vực, như: Thái Lan, Ấn Độ, Lào, Campuchia, Mianma và một số nước mới nổi. Thị trường xuất khẩu rộng lớn nhưng trong khu vực đông nam châu Á là chính. Bản thân những khách hàng lớn, quen thuộc của chúng ta như Philippine, Indonexia họ cũng có chiến lược chính sách để gia tăng sản lượng lương thực để đáp ứng nguồn cung ở trong nước.



 Chính vì vậy, lượng xuất khẩu co dần lại, lượng gạo của chúng ta chủ yếu xuất khẩu sang Trung Quốc nhưng nếu chúng ta không chủ động mở rộng thị trường, phụ thuộc nhiều vào Trung Quốc thì sẽ gặp rất nhiều khó khăn bởi đây là thị trường nhiều biến động.

 Sự dễ dãi của thị trường Trung Quốc, yêu cầu gạo phẩm cấp thấp, đang "làm cùn" nông dân Việt Nam. Chính vì vậy, đặt ra yêu cầu tái cấu trúc ngành hàng lúa gạo, làm sao để nâng cao giá trị gia tăng, phát triển bền vững gắn với giảm thiểu tác động môi trường.

 Nhiều ý kiến cho rằng, muốn vượt qua khó khăn, nắm bắt cơ hội nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, ngành lúa gạo cần khắc phục những yếu kém tồn tại lâu năm của ngành.

 Phản ánh về sự bó buộc trong cơ chế chính sách gây khó cho doanh nghiệp xuất khẩu, Ts. Trần Văn Khởi, Phó Giám đốc Trung tâm khuyến nông quốc gia, cho biết cơ chế xuất khẩu gạo hiện quá bó buộc các doanh nghiệp, so với Thái Lan, chúng ta đưa ra yêu cầu quá cao. Tại Thái Lan, xuất khẩu gạo loại bao dưới 12 kg không cần phải xin phép, xuất khẩu trên 12 kg mới phải xin phép nhưng thủ tục rất đơn giản. Với Việt Nam, thủ tục quá khắt khe về nhà máy chế biến, năng lực kho chứa. Cần nới nhẹ tiêu chuẩn để doanh nghiệp tham gia xuất khẩu gạo.

 Ông Trần Mạnh Báo, Tổng Giám đốc Tổng Công ty Giống cây trồng Thái Bình, cho rằng "nên cởi trói cho doanh nghiệp xuất khẩu gạo, xuất khẩu gạo đang chậm mà chúng ta cứ bắt bí doanh nghiệp phải có giấy phép là không hợp lý. Giống như việc nhập khẩu lúa, trước kia cũng cần giấy phép, tôi đã từng kiến nghị xóa bỏ, giờ thị trường giống lúa rất phát triển. Thị trường hội nhập rồi, chúng ta cần mở bung ra, tại sao phải trói buộc mình như vậy".

 Một yếu kém của ngành lúa gạo bị chỉ ra là tình trạng sản xuất còn nhiều bất cập từ cách làm đến cơ sở hạ tầng. Theo ông Trần Mạnh Báo, ngành lúa gạo cần tổ chức lại sản xuất, tránh để tình trạng manh mún, "trăm ông làm trăm kiểu" không ai giống ai như hiện nay.

 Đảm bảo lợi nhuận cho nông dân

 "Cần tạo liên kết bền vững thông qua hợp đồng, không thể để tình trạng nông dân trông chờ doanh nghiệp hỗ trợ giống, đầu tư hạ tầng, kho bãi chế biến, rồi bẻ kèo, như vậy sẽ không bền vững. Cơ sở hạ tầng ở một số nơi còn quá lạc hậu, khiến chúng ta khó thực hiện cơ giới hóa sản xuất. Chẳng hạn, có nơi tôi phải đi bằng 4 phương tiện từ ô đô, xe ôm, xuồng máy, đi bộ mới tới được cánh đồng khảo nghiệm. Nếu cứ thế này ngành lúa gạo làm sao tổ chức hàng hóa được", ông Báo cảnh báo.

 GS., TS. Vũ Văn Yết, Phó Giám đốc Học Viện Nông nghiệp Việt Nam, dự báo "năng suất sản lượng lúa tầm nhìn 2030 sẽ không thể tăng hơn được nữa do thời gian qua, chúng ta đã phát triển đến kịch trần năng suất cả hai giống lúa lai và lúa thuần. Chính vì vậy, ngành lúa gạo muốn nâng khả năng cạnh tranh thì phải thay đổi phương thức sản xuất từ tự cung tự cấp sang nâng cao khả năng sản xuất hàng hóa của người sản xuất lúa".



 Điểm yếu của ngành lúa gạo còn được chỉ ra trong khâu xây dựng thương hiệu. Bao năm qua, xuất khẩu gạo nhiều nhưng gạo Việt Nam không có tên trên thị trường thế giới. Theo Gs. Ts Vũ Văn Yết, một số đề tài xây dựng thương hiệu cho lúa gạo được đặt ra nhưng chưa rõ ràng. Hiện Thái Lan có giống lúa Jusmine của Thái Lan được bán với giá cao. Việt Nam cũng nên cải tiến giống Jusmine để biến nó trở thành thương hiệu của mình.

 Để tận dụng tốt những cơ hội mở ra, tạo động lực đổi thay thực sự cho ngành lúa gạo, Đề án Tái cơ cấu ngành lúa gạo đang được Cục Trồng trọt xây dựng, lấy ý kiến vào giai đoạn cuối. Dự kiến, vào tháng 9 hoặc tháng 10 tới, Cục sẽ trình Bộ NN&PTNT phê duyệt để trình lên Chính phủ.

 Đề án đặt ra mục tiêu đến năm 2020 là đảm bảo lợi nhuận cho người trồng lúa ở vùng sản xuất lúa hàng hóa từ 30% trở lên; tỷ lệ sử dụng giống xác nhận chiếm trên 75% diện tích; giảm tổn thất sau thu hoạch dưới 8%.

Cần hình thành doanh nghiệp nông nghiệp của những người nông dân. Doanh nghiệp này được tổ chức tại nông thôn, giúp nông dân tiếp thu và tổ chức sản xuất theo phương thức hàng hóa. Bài học Trung Quốc rất đáng giá, họ hình thành doanh nghiệp tại các xã. Trong các doanh nghiệp này có đủ các nhóm thị trường, tổ vận chuyển, chế biến sơ chế. Doanh nghiệp này phải kết nối được với các doanh nghiệp xuất khẩu mới thúc đẩy được tái cơ cấu ngành lúa gạo. GS., TS Vũ Văn Yiết, Phó Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Nguồn: Theo tapchitaichinh.vn



Việt Nam định hướng sản xuất lúa gạo chất lượng cao


Theo “Đề án tái cơ cấu ngành lúa gạo Việt Nam”, Việt Nam sẽ duy trì vị thế XK gạo của mình nhưng hướng vào chất lượng, nâng cao hiệu quả cạnh tranh.

Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn (IPSARD) và Cục Trồng trọt (Bộ NN-PTNT) hôm qua (25/8) đã tổ chức hội thảo góp ý dự thảo “Đề án tái cơ cấu ngành lúa gạo Việt Nam”.

Theo đề án, dự báo trong 10 năm tới, thế giới SX 530 triệu tấn gạo. Trong khi đó, nhu cầu tiêu thụ gạo chỉ khoảng 500 triệu tấn, nguồn cung sẽ dư khoảng 30 triệu tấn. Từ nay đến năm 2024, các giao dịch thương mại về gạo toàn cầu tăng khoảng 1,5%. Các thị trường NK gạo chính vẫn là châu Phi, Trung Đông và nhiều nhất là Trung Quốc, Indonesia.

Về giá cả, các loại gạo chất lượng cao sẽ tăng hoặc giữ được giá tốt. Ngược lại gạo thường vẫn giữ xu hướng giảm giá đến hết năm 2017 do nguồn cung dồi dào. Giá gạo thường có thể tăng trở lại sau năm 2018.

Như vậy, theo đề án, Việt Nam sẽ duy trì vị thế XK gạo của mình nhưng hướng vào chất lượng, nâng cao hiệu quả cạnh tranh. Yêu cầu của tái cơ cấu phải đảm bảo hài hòa lợi ích của các bên, nhất là người nông dân.

Để làm được điều này, cần xây dựng các vùng chuyên canh XK, từ đó tăng cường liên kết nông dân và DN nhằm bảo đảm chất lượng đầu vào và đầu ra của sản phẩm. Đó là cơ sở để xây dựng giá XK tương đương với giá gạo thế giới ở cùng phân khúc.

Về thương mại, đề án tái cơ cấu cho rằng cần tái cấu trúc lại Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) và các công ty lương thực như: Vinafood 1 và 2. Xây dựng và phát triển các DN tư nhân trong ngành lúa gạo làm ăn có hiệu quả. Một vấn đề quan trọng trong thương mại lúa gạo là cần phải xóa bỏ tình trạng buôn bán tiểu ngạch với Trung Quốc, Lào và Campuchia.

Trong các tiểu ngành nông nghiệp thì lúa gạo là ngành quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội và ảnh hưởng đến môi trường. Hiện nay, Việt Nam có gần 9,3 triệu hộ trồng lúa trong tổng số 15 triệu hộ nông dân, XK đạt 7-8 triệu tấn gạo hàng năm.

Nguồn: Theo Báo Nông nghiệp



Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More